07:40 ICT Thứ năm, 30/03/2017

Các mục chính

      Linh mục quản xứ Nghi Lộc

       Giuse Nguyễn Văn Chính

 

Gx. Nghi Lộc online

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 47

Máy chủ tìm kiếm : 5

Khách viếng thăm : 42


Hôm nayHôm nay : 3061

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 344013

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 31207623

Trang nhất » Tin tức » Tài liệu - Nghiên cứu

Rút phép thông công

Thứ ba - 24/05/2011 05:26
Rút phép thông công
Gần đây, trong phần phản hồi ở một bài trên mạng Nữ Vương Công lý, một độc giả muốn hỏi về trường hợp bị rút phép thông công. Độc giả ấy muốn biết rút phép thông công là gì, khi nào thì bị rút và ai có quyền này.

 

Thấy ước muốn của độc giả đó đáng lưu tâm nên tôi tìm xem lại giáo luật và thấy có thể nói đại khái về việc rút phép thông công như sau, để giúp làm sáng tỏ vấn đề, hầu giải tỏa được vài mối lo sợ ám ảnh tâm trí một số người. – Linh mục Anre Đỗ Xuân Quế. O.P

1. Rút phép thông công là gì ?

Rút phép thông công là kiểu nói bình dân để nói về những vạ được bàn tới trong Giáo luật. Trong bộ luật này có nhiều vạ dành riêng cho từng giới. Nặng hơn cả là vạ rút phép thông công. Theo từ chuyên môn của Giáo luật thì vạ này là vạ tuyệt thông. Tuyệt thông là hình phạt Hội thánh dành cho tín hữu nào lỗi phạm trầm trọng những điều ghi trong Giáo luật. Người bị vạ tuyệt thông không được hòa nhập cùng Hội thánh, không được xưng tội rước lễ, tham dự các lễ nghi và hưởng nhờ các ơn phúc thiêng liêng Hội thánh dành cho con cái mình và nếu là linh mục thì bị huyền chức và bị thải hồi về bậc giáo dân trong những lỗi phạm quá tai tiếng.

Trong những thế kỷ đầu, tín hữu nào phạm tội giết người, bỏ đạo, ngoại tình thì bị tuyệt thông. Những tội này thuộc loại peccatum mortale (tội chết người), còn những tội khác như bỏ lễ ngày Chúa nhật, không ăn chay kiêng thịt vào những ngày buôc, lỡi đức trong sạch cách nặng về điều răn thứ sáu v.v… là peccatum grave (tội nặng). Những ai phạm tội thuộc loại « chết người » thì phải làm việc đền tội công khai (thường là nặng) như mặc áo nhặm, đứng ở ngoài nhà thờ trong khi những người khác dự lễ bên trong. Sau một thời gian, nếu các bạn đồng đạo thấy người ấy đã sửa mình thì trình lên đức cha. Đức cha duyệt xét rồi nếu thấy đủ điều kiện, ngài sẽ làm một nghi thức hoà giải vào chiều ngày Thứ Năm trong Tam nhật Vượt qua, cho người ấy tái nhập cộng doàn. Và khi đó là hết bị phạt vạ tuyệt thông.

Mục đích của vạ tuyệt thông hồi xưa cũng như bây giờ là mở đường cho người sai lỗi trở lại giao hòa cùng Thiên Chúa qua trung gian Hội thánh. Lỗi của họ làm gương xấu cho người khác, gây nguy hiểm về đức tin cho nhiều người nên phải dùng biện pháp này để ngăn ngừa ảnh hưởng khốc hại, khi không còn giải pháp nào khác để giúp phạm nhân qui chính. Tuy nhiên, tinh thần và mục đích của việc phạt vạ vẫn là kêu mời người sai lỗi cải quá tự tân theo lối của các nhà mục tử (pastores) chứ không phải thái độ của những người đánh phạt (percussores).

2. Khi nào thì bị rút phép thông công ?

Khi sai phạm những lỗi nặng được kê khai trong Giáo luật. Theo bộ luật năm 1917 có tới 37 vạ tuyệt thông. Nhưng theo bộ luật năm 1983, hiện nay chỉ còn 7 vạ theo các chỉ thị của Công đồng Va-ti-ca-nô II. Đó là :

2.1 Xúc phạm đến Mình Thánh Chúa

2,2 Đả thương ĐGH

2.3 Giải tội cho người đồng phạm về điều răn thứ sáu

2.4 Tấn phong giám mục không có phép của ĐGH

2,5 Lỗi ấn tòa giải tội

2.6 Phá thai

2.7 Bỏ đạo, rối đạo, ly khai khòi Giáo hội Rô-ma[1]

Bốn vạ đầu tiên dành cho Tòa thánh, nghĩa là chỉ Tòa Thánh mà đứng đầu là ĐGH mới có quyền tha. Vạ này gọi là vạ tiền kết (latae sententiae), nghĩa là hễ lỗi thì đương nhiên bị phạt và ngay tức khắc, không cấn phải tuyến án. Còn những vạ kia gọi là phán kết (ferendae sententiae), nghĩa là có tuyên án phạt về những hành vi pháp lý đặc biệt do giáo quyền công bố. Hai trường hợp thường được nhắc đến trong giáo luật hiện hành là :

* Không phải là linh mục mà làm lễ hay giải tội

* Lỗi ấn tòa giải tội do nghe lén hay làm thông ngôn dịch tội, khi người xưng tội không nói được tiếng của cha giải tội hay bị câm.[2] .

Trong các vạ, có hai loại : một loại là tiền kết và một loại là phán kết[3]. Giáo luật số 1324, 1341 nói rõ về hai loại vạ này, nghĩa là  khi nào thì vạ mang tính tiền kết, khi nào thì mang tình phán kết.

3. Ai có quyền phạt vạ?

Quyền phạt vạ thuộc Tòa thánh mà cao hơn hết là ĐGH. Các vạ và hình phạt tùy theo tôi trạng đã được qui định rõ ràng trong Giáo luật, nghĩa là lỗi điều luật nào thì phải mang vạ nào. Tòa thánh có quyền tối cao rồi đến các giám mục. Các giám mục được quyền tha  vạ cho những người phá thai,[4] và những ai có lời khấn đơn trong các hội dòng thuộc giáo phận mà kết hôn, trước khi được tháo giải lời khấn. Các ngài có quyền phạt các linh mục phạm lỗi phải bị « treo chén »[5], phạt xứ đạo nào ngoan cố chống lại quyền bính một cách vô lối không theo một trình tự pháp lý nào. Tuy nhiên, vạ phán ra phải nhằm giúp người có lỗi sửa mình, và phải được đưa ra trong tình trạng tự chủ, sáng suốt chứ không phải trong lúc bực bội.

Những người rối vợ rối chồng, lấy nhau không có phép giao, phép cưới cũng bị rút phép thông công, nghĩa là không được lãnh nhận các bí tích, bao lâu họ còn ở trong tình trạng rối rắm này. Khi hết rồi, họ lại đuợc xưng tội tội rước lễ như thường. Những người ở trong tình trạng tội lỗi liên miên cũng thế, như những người có vợ nhỏ, có nhân tình thậm thụt mà không dứt bỏ.

Tưởng cũng nên phân biệt tội và vạ. Tội là nói, làm, nghĩ, muốn những gì trái với các điều răn của Chúa và tiếng lương tâm. Còn vạ là hình phạt do Giáo luật qui định để phạt những người lỗi luật Hội thánh được ghi trong Giáo luật.

Tất cả các vạ đều đã được ghi chép rõ ràng trong Giáo luật. Bởi vậy, không phải bất cứ ai, dù là giám mục hay linh mục có thể ra vạ tuyệt thông và tuyến cáo những hình phạt theo ý riêng mà không qui chiếu theo Giáo luật[6].

Kết luận

Giáo luật được làm ra là để hướng dẫn và điều hành các công việc  trong đời sông chung của Hội thánh, cũng như đời sống riêng của mõi người. Giáo hội công giáo được tiếng là có tổ chức chặt chẽ và  kỷ cương nghiêm minh từ trên xuống dưới. Mối dây đoàn kết trong Hội thánh dựa vào tinh thần tôn trọng và tuân giữ kỷ luật của mọi người. Chừng nào kỷ cương không được tôn trọng nơi người hành quyền cũng như kẻ phục quyền thì bấy giờ sinh ra lủng củng và mất trật tự.

Như vậy, cả đôi bên, người hành quyền cũng như kẻ phục quyền đều có bổn phận hành quyền thế nào phải phép và phục quyền quyền thế nào cho đúng đạo. Theo đường hướng này thì mọi người phải biết luật và dựa vào luật làm như kim chỉ nam trong cách hành xử. Sự thiếu hiểu biết luật đưa tới những sự lạm dụng quyền bình và coi thường kỷ cương. Tất cả đều tác hại và sinh ra những sự ngột ngạt trong đời sống đức tin.

L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.

 


[1] The modern Catholic Encyclopedia, Michael Glozier and Monika K. Hellwig, The Liturgical Press, Collegeville, Minnesota 1994, từ Excommunication trang 304, tác giả William C. Mc Fadden s,j.

Our Sunday Visitor’s Encyclopedia of Catholic Doctrine, Huntington, Indiana 1997, từ Excommunication trang 224-225

[2] Vào thập niên 70, có hai nhà báo Ý mang máy vi âm vào tòa nghe lén tội rồi sau viết sách công bố những điếu nghe được ở trong tòa về điều răn thứ sáu. Hai nhà báo này đã bị vạ tuyệt thông

f[3] Tạm dịch chữ ferendae sententiae

[4] Nhưng vì ngày nay người ta phá thai nhiều quá, nên quyền tha vạ này vốn dành cho các giám mục nay cũng được nới rộng cho các linh mục được quyền giải tội.

[5] Tiếng Latinh là suspensus a divinis, nghĩa là bi huyền chức. không được cử hành các việc thiêng thánh như làm lễ giải tội, không được cử hành các bí tich và á bí tích, không đươc hành quyền theo chức vụ

[6] Xem Code de droit canonique annoté, Cerf-Tardy 1989, cuốn VI về Các hình phạt trong Hội thánh từ trang 713-784

 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn