01:19 ICT Thứ bảy, 19/08/2017

Các mục chính

      Linh mục quản xứ Nghi Lộc

       Giuse Nguyễn Văn Chính

 

Gx. Nghi Lộc online

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 29

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 27


Hôm nayHôm nay : 133

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 243488

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 33172662

Trang nhất » Tin tức » Tin tức quê hương » Lịch sử quê hương

Lịch sử: Phần II - Thời phân triện (1887)

Thứ ba - 01/06/2010 16:54
Lịch sử: Phần II - Thời phân triện (1887)
II. Thời phân triện (1870) - 2. Những năm tháng thanh bình xây dựng, phát triển - 3. Làm nhà thờ ngói (1888).

 

 

 

2. NHỮNG NĂM THANH BÌNH XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN 

 
Trong bối cảnh lịch sử thời kỳ đầu của những ngày mất nước, lòng dân đau đớn, hoang mang, ly tán, chia rẽ, hận thù. Tiếng súng tàn bạo của thực dân Pháp đã đàn áp khuất phục các phong trào nởi dậy chống đối, đặt ách thống trị lên ba miền đất Việt với ba thể chế khác nhau. Những ngày dài nô lệ như là những vết thương đau xót lòng người.
 
Tuy nhiên, về mặc tôn giáo, anh em công giáo thoát qua một cuộc bách hại lâu đời. Họ được trở lại sống với quê hương xóm làng xưa cũ và được khôi phục lại quyền công dân mà lâu nay hầu như đã mất.
 
Trong hoàn cảnh đó, làng Nghi Lộc sau hai lần chạy loạn vào xã Đoài (Văn thân 1874 và ông Nghè 1886) dân chúng đem nhau trở lại cố hương, tiếp tục hàn gắn lại những gì đã đổ nát, nặng lòng với tương lai xây dựng đầy ép tình người.
 
Hận thù được xóa bỏ, đói no được đùm bọc, chia rẽ được gắn hàn. Tâm tình của người Việt Nam nói chung, người dân Nghi Lộc được thừa hưởng nói riêng, thật cao quý, đáng khen ngợi, mặc dù họ bé nhỏ, đói nghèo.
 
Cũng như mỗi làng Việt Nam, đình chùa hay nhà thờ là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của làng. Hội hè, lễ bái đều thực hiện và quy tụ ở đó. Sự vui buồn, sướng khổ, thịnh suy có thể nhìn qua nếp sinh hoạt của dân chúng tại những trung tâm cộng đồng này. Bỡi vì, ý thức tôn giáo thật sâu đậm trong lòng người Việt. Họ tin tưởng ông trời và thần linh là những đấng sinh thành và ban hạnh phúc cho họ, nên trước hết và trên hết, họ phải lo kiến tạo một nơi thờ phượng.
 
Do đó, xin được nhắc đến hai ngôi thánh đường bằng tranh nhỏ bé, thấp, ba gian và một cung thánh trước đây cũng được cất lên trên dằm nhà thờ ngói cũ bây giờ (1). Cái thứ nhất đã bị thiêu hủy thời Văn Thân 1874. cái thứ hai được dựng lại sau ngày chạy loạn ở Xã Đoài về, khoảng 1886 cho đến 1888 mới có tiền xây cất thánh đường lợp ngói (được kể đến sau đây).
 
Với năm gốc tre mỗi nhà đóng góp để làm hàng rào an ninh cho toàn dân (bờ làng), nếp sinh hoạt của dân quê hiền hòa cũng từ đó được phát triển, lớn lên như những mụt măng âm thầm nẩy mầm vươn lên từ lòng đất. Và cũng thanh bình thơ mộng như tiếng gió rì rào qua rặng tre xanh vào những đêm hè trăng treo vằng vặc. Tiếng cười nói xôn xao, tiếng chày giã gạo nghe rõ mồn một, vẳng lên từ những mái lá, chòi tranh, phên tre vách đất. Cả làng lúc bầy giờ chỉ có ba căn nhà gỗ khang trang của ông Ký Khanh, làm nơi tiếp rước quan chức đến hành hạt, hoặc làm nơinghỉ ngơi cho cụ thầy vào những tuần làm phúc (lúc đó chưa có nhà phòng xa xứ như những năm sau này). Sự đơn sơ trong việc ăn ở, chắc bởi ảnh hưởng giặc giã nổi lên liên miên trước đây. Có nhiều kẻ học vấn thất thời cũng đứng lên quy tập đội ngũ, xưng hùng xưng bá, “được làm vua thua làm giặc”. Có khi vì đói nghèo rủ nhau lập đảng cướp. Mặt khác trong thời vua chúa cũng cấm dân chúng làm nhà chữ công, chữ môn, không được ăn vận lụa là, gấm vóc, mà chỉ được nhà thường, bận vải thô nhuộm nâu, trét bùn.
Nền nếp kham khổ lâu ngày cũng đã huấn luyện tinh thần bất khuất của dân ta không ít.
 
(1) Bà Cố Can (Ngô Thị Côi), có nhắc lại ngôi thánh đường thứ hai bằng tranh, vị trí khác, cũng trong khuôn viên đó nhưng gian cung thánh về hướng Bắc vườn nhà ông Lý Tri, Lý Hoán và cửa chính nhà thờ mở về mặt Nam. Nhưng theo cố Đinh Đườu trên 100 tuổi và một vài cố khác thì xác nhận vị trí nhà thờ từ xưa không thay đổi. Yù kiến này chắc đúng vì quan niện thời trước bên Aâu Châu theo truyền thống tập tục, của chính thánh đường đều mở về hướng Tây, nhất là quan sát các tháp cổ.

 


 

3. LÀM NHÀ THỜ NGÓI (1888)

Thánh đường ngói được xây dựng năm Đồng Khánh tam niên (1888), tức là hai năm sau ngày chạy loạn ông Nghè về. Ông Hiệp quản Phạm Đường lúc đó làm tuần tổng Lý Trai, phủ Diễn Châu tỉnh Nghệ An, coi 35 mục triện. Với tính tình khoan dung, ông được các hào lý và dân chúng các làng xã trong vùng nể vì. Mặt khác vì ân nghĩa, các người trước theo hoặc toa trử những người nổi loạn được ông che chở cứu giúp, nên khi ông Quản hô hào làm nhà thờ cho làng Nghi, được các nơi đóng góp công, của để xây dựng một cách tích cực hăng hái. Nhiều người tình nguyện giúp công thợ, công khuân vát cả tháng trường. Gỗ lạt, gạch ngói nườm nượp mua chở về tưng bừng rộn rã. Có nơi, như Yên Diêu cho các cung kiệu gỗ chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng thật đẹp mắt. Ngoài ra, số tiền bồi mạng được nhiều, nên mua sắm vật liệu xây cất được đầy đủ, không bị thiếu thốn. Dân chúng trong làng không phải đóng góp đồng nào. Khi hoàn thành, mỗi gia đình chỉ phải góp bảy tiền để ăn khánh thành mừng nhà thờ mới (1).
 
Ông Phó Tời người kẽ si bì là chủ thợ, đứng coi việc cất dựng, từ đầu cho tới xong. Nền nhà thờ được bà đồ Bình Cúng mấy sào ruộng để đào ao lấy đất đắp nền.
 
Đến đời ông Lý Ngân, Thành – Thái thập niên (1899) vì bị hư hao trong trận bão lớnthời ông Ký Chung mấy năm trước nên được tu sửa lại, kích lên cao thêm, nối thêm một gian nữa và xây trên mặt tiền nhà bằng đá tô vôi, lắp ba cửa lim lớn, nhưng chungquanh vẫn che bằng các mành hoa, đan bằng tre nứa.
 
Ông Lý Ngân đã cho ông Lốc chuộc vườn (hiện ông Ngân ở) để có tiền trùng tu và xây thêm một gian. Lúc này có ông Tuần Hoạt, người làng Nghi,nhưng đã dời về Đồng Tháp, ông có lên làm phó thợ và giúp công của trong việcsửa sang này nhiều.
 
Đến lúc Cố Hậu (Gauthierột linh mục thừa sai pháp đến học tiếng năm 1912, ngài lại xúc tiến việc sửa sang một lần nữa. Các rèm tre được thay thế bằng các bức tường trong đan tre, ngoài tréthồ vôi chà mặt láng quét vôi trắng. Lắp thêm các khính màu trên vòm các cửa ra vào và cửa sổ.
 
Cố Hậu có tu sửa bàn thờ, bao lớn quanh cung thánh, sơn trắng thiết vàng kím nhũ (người ta bảo sơn sống nên ánh ngời như vàng lá) thật bền màu. Bàn thờ được chạm trổ công phu có nét thanh tú, nên sau này xây tân thánh đường, Cha Bùi Nhật Nghiệm cho dời bàn thờ này sang mà không làm bàn thờ mới. Ngày nay chúng ta vẫn thấy nét cân đối, trang nhã của nó.
 
Mười bốn đàng thánh giá bằng sứ trắng, hình nổi rất mỹ thuật cũng được gởi qua, giá 70S cố cho một nửa, làng phải xuất một nửa, nếu không cố sẽ để lại xây cố bảo nham (1). Vì thấy giá trị của bộ tượng, Cha già Lộc (phi lộc) vận động bà Đồ Bình (mẹ O Phù lấy ông lý Đức) dâng cúng Khi được biết tượng đã trở về làng ta xuống tận ga si để đón. 14 bô lão áo thụng chỉnh tề, mỗi ông rước một lượng bưng bằng khăn choàng qua cổ, đỡ trên hai tay. Mỗi tượng là một lọng vàng che; thiếu lọng là phải đi mượn khắp nơi. Ông Cương (cha ông Thường)xuống họ Xuân phong(lúc đó chưa thành sứ) Ông Phạm Nguyên (cha ông Trân) xuống Phú Linh, nhưng các nơi ấy không cho mượn. Sau bà Lý Ngân chỉ xuống quan huyện Tùng Thiện ở Thổ Hậu (ông này là thân sinh của ông Lý Dần và giáo sư Phan Ngọc Anh dạy trường trung học Thiên Khải Đường làng ta sau này) được ông cho mượn mấy cái và còn sức giấy cho mấy làng kế cận mượn cho đủ số.
 
Cuộc rước thật linh đình long trọng về đến nơi làng ta tổ chức ăn mừng tại nhà ông câu Công (cha ông Lý Đức). Cố Hậu có mời một số quan khách xa gần như: Cố Hiển quản hạt đồng Tháp cỡi ngựa đi lên, cha già Nhơn ở Thuận Nghĩa và cha già Uyển ở Phú Linh và cha già Lộc ở Phi Lộc đến dự.
 
Nhắc tới ngôi thánh đường xưa cũ này, mỗi người chúng ta không nên quên nơi đó là ông Từ Đường Bạng (Cố Bạng sinh ông Khoảnh, ông khoảnh sinh ông Quang và chú Dĩ), người có công chăm sóc quét dọn lâu năm trông coi nhà thờ này.
 
Lối vào thánh đường cũng khác với hiện nay: Trước đi bằng hai chiều Nam, Bắc vào, cặp theo bờ ao trên và vườn nhà xứ. Năm 1930 nhân vụ hạn hán lớn, ao hồ nứt nẻ đất bùn, cha Đình cho sửa đìa xóm dưới (lúc đó là cái vũng con) thành ao dưới. Đắp con đường từ Cồn Can về ngăn giữa hai ao, thành lối đi duy nhất vào thánh đường. Trông xinh xắn thơ mộng cả toàn khu vực.
 
Năm 1943, sau khi đã có thánh đường, nhà thờ xưa, nay đã biến thành ngôi trường tiểu học rộng rãi mát mẻ, vách tường xây ngăn các lớp, tân trang bàn ghế. Đón mầm non của con em của nhân dân Nghi Lộc cắp sách đến trường, ôm ấp chúng, dạy dỗ chúng nên người. Cũngnhư hằng bao năm trước đây đã ôm ấp biết bao vui buồn của ông cha chúng. Bao kỉ niệm khó phai bên tháp cũ năm nào.
 
Năm 1989 kỷ niệm 60 năm giáo sứ Nghi Lộc. nhân dịp chầu lượt Nghi Lộc, một phái đoàn gồm hai Cha Đinh Tiến Đường, Đinh Huỳnh Hoa và trên 20 giáo dân gốc Nghi Lộc tại miền nam về thăm quê hương, trong đó có tác giả “Quê hương yêu dấu”. Chúng tôi thấy ngôi thánh đường xưa kia cũng là ngôi ngôi trường tiểu học trước di cư 1954 nay là nhà xứ Nghi Lộc. Đinh Thế Khiêm ghi chú.
 
(1) một quan = 10 tiền; 1 tiền = 10 đồng chinh.
 
 
Đình Quang (tư liệu)
 
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin cũ hơn