02:49 ICT Thứ năm, 25/05/2017

Các mục chính

      Linh mục quản xứ Nghi Lộc

       Giuse Nguyễn Văn Chính

Xem nhiều trong tuần

 

Gx. Nghi Lộc online

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 171

Máy chủ tìm kiếm : 122

Khách viếng thăm : 49


Hôm nayHôm nay : 2140

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 330945

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 31916943

Trang nhất » Tin tức » Tin tức quê hương » Lịch sử quê hương

Lịch sử: Phần II - Thời phân triện (1887)

Thứ bảy - 22/05/2010 18:36
Lịch sử: Phần II - Thời phân triện (1887)
II. Thời phân triện (1870) - 1. Câu chuyện chia thôn (Đinh Hợi, 1887, năm Đồng Khánh thứ 2).

 

Năm 1869 vua Tự Đức ra hai sắc dụ cho phép nguời Công giáo được lập thành những làng riêng biệt, có lý tưởng Công giáo, đồng thời cấm lương dân không được nhục mạ quấy rầy họ. Những năm cuối đời, nhà vua bênh vực người Công giáo một cách công khai, tiếc rằng nhà vua không còn đủ uy lực buộc thần dân tuân hành.

Do đó về mặt pháp lý các làng Công giáo có điều kiện để phục hồi, tái thiết. Nhưng thực tế hoàn cảnh lúc bấy giờ giáo dân đang bị bách hại liên tiếp. Mà cường đô ngày càng gia tăng do phong trào Văn Thân, như ta thấy thảm cảnh ở phần trên.
 
Riêng về làng Nghi Lộc, sau cuộc chạy loạn lần thứ hai (giặc ông Nghè) trở về một năm sau mới phân triện.
 
Lúc mới về, ông Phạm Đào nóng lòng, có bàn với người em (ông Quản Đường) rằng sang năm chúng ta phải lo cho kỳ được phân triện. Thực ra các hương chức và toàn dân đã định liệu 5, 7 lần, đã làm đơn trình xin huyện, tỉnh đôi ba lần mà cũng chưa được chấp thuận. Nỗi khát khao và mối ưu tư xin được tách ra một thôn riêng biệt là một vấn đề lớn đối với người dân trong làng.
 
Ông Quản Đường lúc bấy giờ đang là Hiệp Quản coi đội quân Đông Đào do chung đường xã Đoàn bổ nhiện. Ông dùng uy tín của mình giao thiệp với các thân sĩ địa phương, liên lạc với quan chức để vận động. Mặt khác, bố trí cho người vào kinh, nhờ cụ hoàng giúp đỡ, các ông có họ hàng bà con với ngài khi còn trong quê nội Hà Tĩnh.
 
Mùa lúa tháng 10 năm sau, tức là năm Đồng Khánh nhị niên, Đinh Hợi 1887, ông Phạm Đào cho gọi ông Trung làm đầu nậu tuần tới dặm: “Khi họ góp lúa ở Đình Trung (1) thì xóc lúa chia đôi, ta một nửa, làng hữu một nửa “rồi ông sửa soạn hành lý vào Kinh. Khi ông đi đươc 10 ngày thì lúa chín, gặt chia lúa. Công chuyện xảy ra như đã định, chức việt làng Hữu họp tại đình để bàn luận, không ai giám chống cự gì vì sợ ta đập. Sau đó họ đem nhau xuống huyện trình. Quan cho đòi hương chức và đậu nậu tuần làng ta xuống đối chất, nạt nộ thị oai.
 
Chưa được mấy hôn thì có giấy trong kinh ra cho làng Nghi phân triện. Toàn dân nô nức, vui mừng như ngày hội.
 
Kể từ đây ai cũng thấy phấn khởi hăng say với công việc. Chung của làng, lo đắp bờ, trồng lũy, lo chăm mảnh đất mới được phân chia.
 
Chúng ta cũng không quên ơn cụ già Hoằng, tức cha Nguyễn Hoằng, một linh mục thời danh hồi ấy, đương làm Lễ bộ Tả Tham tri ở Huế, dưới triều Đồng Khánh (2), đả can thiệp đắt lực cho việt phân triện này. Ngài quê xứ Thổ Hoàng, Hương Khê, Hà Tĩnh, mà anh em ông Quản là đồng hương và con cháu của Ngài.
 
Đến lúc chia ruộng, ông Trung thôi làm nậu tuần, ông Trúc Khái lên thay. Ông Quản bảo ông Trúc đem tiêu xuống cắm tuất dưới gần Trung Hậu để giữ cận cho được nhiều hơn, nhưng không hiểu sao ông trúc lại lấy tiêu và cắm lên gần Thung (sự kiện này không rõ hư thực, nhưng có người nói là đêm đến, người làng Hữu có nên lo lót tiền cho ông Trúc).
 
Dân số làng Nghi Lộc hồi phân triện trên dưới 300 người với khoản 60 gia đình. Đa số hồi cư năm 1875 sau cuộc lánh nạn lần thứ 1. Nhưng cũng có một ít nhà mười mấy năm sau mới trở về, nhưng ông cố Quyết ở chăn trâu cho người Bùi Chu đến 13 năm.
 
Như vậy, xã Đào Viên từ nay lại có thêm một thôn mới. Là Nghi Lộc và gồm 7 láng tất cả: Tràng Khê, Trung Hậu, Đồng Thái, Thổ Hậu, Đông Hạnh, Hữu Lộc và Nghi Lộc.
 
(1) Đình Trung làng hữu lúc bấy giồ lớn lằm, sườn gỗ , mái ngói, tọa lạc trên phần đất này là lò rèn , cổng xóùm Nam, Nghi Lộc
 
(2) Linh mục Nguyễn Hoằng là một vị giáo sĩ thời danh trong quá trình lịch sử nước nhà thời cận đại, làm đến chức Lễ bộ Tả Tham tri ở Huế dưới đời vua Đồng Khánh (Cao Văn Luận và Sử Địa phận Vinh)
 
- Vua Đồng Khánh (1866-1888) - Duy Tân (1907-1916)
 
- Thành Thái (1889-1907) -Vua Khải Định (1916-1925)
 
- Bảo Đại (1925-1945) Cách Mạng Tháng Tám thoái vị.
 


 

PHẦN ĐỌC THÊM: TIỂU SỬ ÔNG HIỆP QUẢN PHẠM ĐƯỜNG
 
Ông quản sinh váo thế kỷ 19, (khoảng 1817) quê xứ Thổ Hoàng, Ngân Sâu, Hà Tĩnh. Con của vị tuẫn đạo Trùn Diến (1) ra Nghi Lộc trước Văn Thân. Nguyên gốc xưa thời họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, nên con cháu đổi ra họ Phạm sinh ra trong một gia đình có bốn anh em là các ông Luân, Đào, ông Quản Dương và ông Băng Ký.
 
Là một người hoạt động, đức độ và mưu trí, ông đã đóng góp công sức cho sự thịnh đạt của làng Nghi rất nhiều. Trong những lúc gian nan dem tôi và những ngày yên ổn sau này. Là một người bình dị nhưng có tài chỉ huy. Về văn chươngcũng rất sành sỏi,đã để lại nhiều ánh văn thơ như bài: Dân Khổ Khiêu năm Giáp Tuất, Thơ triển nhân cố hậu đi Quảng Bình vv… ngoài giá trị văn chương còn đóng góp cho nguồn sử liệu quan trọng.
 
Làng Nghi qua hai lần chạy loạn, từ Thuận Nghĩa tới xã Đoài, đâu đâu ông Quảng cũng chỉ huy tháo vát.
 
Đến việc phân triện và ăn lo trong làng một thời gian dài cũng ông vẫn đảm đương. Việc làm nhà thờ ngói cho đến việc dạy giáo lý cho trẻ em ông cũng lo tròn: thời còn làm nhà thờ không có nơi dạy học, ông đã đem các trẻ ra ngoài bãi cát Hoàng Nương để cho học, vừa mát vừa vui.
 
Hồi cố Bắt (Đức Cha Eloy) lúc còn làm Quản hạt Đông Tháp muốn mua đất Thành Trài cho bốn đạo mới ở, ông quản cũng bày mưu hiến kế để người ta bán cho.
 
Đất Cao Vương xú làng Hữu nhượng đỡ 60 năm, nhưng sau ông quản lo thành nhượng đoạn (2).
 
Hình như ông chỉ quan tâm đến ích lợi cho dân làng là được. Một người có công tâm giúp quê hương như vậy thật đáng ghi ơn.
 
Chức vụ phần đời, ông là Tuần Tống Lý Trai, coi 35 mục triện, về phần đạo, Giáo hội Địa phận Vinh tặng ông là Hợp Quản, do đó người ta thường gọi ông là Quản Đường.
 
Ông Quản sống rất thọ, trên 100 tuổi mới từ trần, nên nhiều người trong làng còn nhớ hình ảnh cụ già mảnh mai, vui vẻ, bình dị, với hai má hóp, cằm nhô, chồm râu bạc phong nhã.
 
Tình cảm của dân chúng đối với ông thật đồng thắm. Người nào cũng kính trọng vị ân nhân đã giày công xây đắp cho xứ sở.
 
Ngày Cố Hợp Quản qua đời, cố Hiển (linh mục thừa sai parit) quản hạt đông pháp đã cùng với các cha lân cận đến tại Nghi Lộc làm lễ quy tăng cất xác cho cố để nhớ ơn người đã gốp công không nhỏ cho Nghi Lộc nói riêng và địa phận nhà nói chung.
 
(1) Ông Trùm Diến bị tên Đồ Quý người Côn Các phản, bắt nộp cho chúc dịch và bị chém chết thê thảm tại quán Đánh Rang rồi vức thây xuống sông, tháng giêng Giáp Tuất (1874).
 
(2) Đầu thế kỷ 16 vua nhà Lê hoang dâm , bỏ phế triều chính nên Mac Đăng Dương cướp ngôi. Lòng người còn nhớ các tiên đế nhà Lênên đã theo phò con cháu nhà Lê trung hưng lên ở phái Nam lập ra triều riêng ở Thanh Hóa Nghệ An, để chống nhau với nhà Mạc.
 
Cố bắc mãi mà người Thành Trài không chiệu bán, Cố Bắc nhờ ông quản giúp cách nào. Ôâng hiến kế : Có cứ nhờ địa chánh cứ nhờ Địa chánh tây đo đạc, họ sẽ e nhà nước lấy đất để lập ga hay phủ gì đó mà không được bồi thường. Tất nhiên họ phải bán cho cố, có lợi hơn. Sau sự việt y như vậy. Cố bắt rất hài lòng.
 
 
LINH MỤC PAUL NGUYỄN HOẰNG, VỊ QUAN LỚN DƯỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC 
(1839-1909) 
(LM. Cao Vĩnh Phan, Lịch sử Giáo phân Vinh) 
 
Nhiều người gọi linh mục Hoằng là quan lớn Hoằng (1). Ông già Nguyễn Thịnh 105 tuổi gốc Tri Thủy, xứ Mỹ Lộc, Nghệ An, di cư ở Vinh Tân, Bình Tuy nói nhiều lần ông đã được gặp Ngài. Ông nói: cụ già Hoằng có dáng điệu quắc thước, hai mắt thau oai phong quyền thế. Người thường có lính hầu, đi ngựa bạch, các quan đi qua nhà phải xuống ngựa.
 
Ở vùng Thổ Hoàng, Hương Khê, Hà Tĩnh có lẽ còn nhiều người biết và nói về người sinh trưởng tại đó. Ở vùng Hoàng Mai, Quỳnh Lưu, Nghệ An cũng vậy, vì lúc sinh thời người đã làm linh mục giáo tại đó và chết cũng tại đó.
 
Nhưng ngược lại, trong số các linh mục Vinh, nhất là những linh mục gốc Vinh di cư, kể cả những linh mục già lão, hiếm người biết về linh mục này một cách rõ ràng và chi tiết. Có chăng họ chỉ biết qua lời truyền khẩu người làm linh mục, vừa dạy học con vua, vừa làm quan trong triều.
 
(1) Linh mục Phê Rô Ngô Văn Phúc (sinh năm 1901 tại Nghệ An, hữu dưỡng xóm chiếu Sài Gòn)  chỉ biết linh mục này thường được mệnh danh là quan lớn Hoằng.
 
(1) Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, ở trang 496 viết hai tên này là Phạm Phú Thứ (không kèm chữa Hán) với ngụy khắt đãm (kèm chữ Hán).
 
Sau đây là một vài nét sơ phác về lai lịch của vị linh mục này:
  
1. LINH MỤC NGUYỄN HOẰNG TRONG LỊCH SỬ 
 
Trong bản tiểu sử Đức cha Trần Hữu Đức, người ta nói đên linh mục Nguyễn Hoằng bằng một câu ngắn ngủi lồng trong lý lịch thân sinh vị Giám Mục này. Bản tiểu sử viết: “từ bé, cụ đã theo giúp cậu ruột là cha Nguyễn Hoằng, một vị linh mục thời danh hồi ấy đương làm Lễ bộ Tả Tham tri ở Huế, dưới triều Đồng Khánh...”
 
“...sau khi cha Nguyễn Hoằng về quê hưu trí, thì gia đình người cũng trở về Hà Tĩnh…” (1)
 
Việt Nam giáo sứ 1, Phan Phát Huồn trang 501 có nói sơ qua đến linh mục Nguyễn Hoằng trong phái bộ Phan Thanh Giản qua pháp lần thứ hai (1863-1864): “Phan Thanh Giản lại được dẫn đầu phái đoàn Việt Nam gồm có Tả Tham tri lại bộ Phậm Phúc Thế và Ánh sát tỉnh Quảng Nam và Nguyễn Khắt Đốn với 53 tùy viên, trong số đó linh mục Nguyễn Hoằng (2) và Petrus Trương Vĩnh Ký (3). Chỗ khác, ở trang 498, chỉ nhắc sơ đến tên người bên cạnh phái giảm bộ mục Gauthier Ngô Gia Hậu và quan Thượng Nguyễn Tăng Dỗn qua pháp năm 1866.
 
“Năm 1866, giám mục Guathier Ngô Gia Hậu, linh mục Nguyễn Hoằng và khen linh mục “người giỏi tiếng Tây” khi người còn giáo sĩ Phó tế.
 
“Nếu triều đình muốn thi hành hai điều kiện tôi bày ở trên thì Nguyễn Hoằng với tôi tình nguyện đi tây với hai hạng người đó để giảng giải những chỗ họ không hiểu, giúp những việc họ không làm được. Như thế chỉ trong 10 năm là họ học thành tài, vì các môn ấy tôi đã từng rõ sự lý và hiểu những chỗ đại yếu, còn Nguyễn Hoằng thì thông thạo tiếng Tây, cắt nghĩa rõ được minh bạch”. (4)
 
(1) Nói cho đúng tên là Nguyễn Hoằng như đã thấy trong mục tiểu sử ông Nguyễn Trường Tộ và cũng như trong bổn sự của ngoài sau này trang 265 và 310.
 
(2) Trương Vĩnh Ký sinh năm 1837, tại Cái Mơn, Bến Tre (Việt Nam danh nhân tự điễntrang 362) qua đời năm 1898.
 
(3) Ravier Sử Ký Hội Thánh III, trang 569U- M.Cath, trang 59.60 truyện sáu ông Phúc Lộc chú thích 1, trang 183
 
(4) Tiểu sữ Nguyễn Trường Tộ, Từ Ngọc, Nguyễn Lân, trang 48.
 
 
2. LINH MỤC NGUYỄN HOẰNG TRONG BẢN TỰ SỰ (1) 
 
Tuy nhiên muốn hiểu chi tiết về tiểu sử vị linh mục đặc biệt độc nhất vô nhị của Giáo phận Vinh và cũng là vị linh mục hiếm có của Giáo Hội Việt Nam, có lẽ không gì hơn là đọc ngay máy dòng tiểu sửdo chính tay Người viết, được in lại trong nguyệt san SACERDOS. Bản tiểu sử này ngoài mấy dòng cuối cùng được nguyệt san SACERDOS thêm vào về ngày giờ Người qua đời, và huân chương truy tặng, còn ngoài ra toàn bộ là nguyên văn lời của người. Bản tiểu sử viết:
 
“Paulo Nguyễn Hoằng, người tỉnh Hà Tĩnh, huyện Hương Khê, tổng Phương Điền, làng Phương Tân, sứ Phương Trạch, sinh ngày 12-11 năm Tân Mão đời vua Minh Mạng năm 12 là tháng 9 năm 1839”.
 
“Năm Tự Đức thứ 2, ngày 11 tháng chạp, cha chết, sang năm đức tự thứ 3, là 1850 thì đi huế ở nhà thầy (2) với cụ già Thông. Trước hết ngài gởi ra ở với cụ già Xuân, xứ Đông Thành xã Đoài, được một năm rồi ra học Trường Thuận Ngãi (Thuận Nghĩa) xứ Quỳnh Lưu. Đến năm Tự Đức thứ bảy là 1854, thì đi học trường Penang, đến 1860 học rồi, xong người Pháp lúc ấy là Tây Ban Nha còn đánh nước An Nam chưa yên, cho nên chưa về được, phải ở lại trường đến 30 tháng 5 năm 1861 là năm Tự Đức thứ 15 ba nước làm hòa rồi mới về Sài Gòn ở nơi Đức cha Hậu và đi làm thông ngôn tại tỉnh Định Tường (Mỹ Tho) sang Pháp và Tây Ban Nha ở bên tây chín tháng, khi về qua Ý Đại Lợi và đến thành phố Rôma chầu Đức Giáo hoàng Pio IX người ban cho một tượng vàng là hình ngài.
 
“Đoạn qua thành Naples ở hai tuần lễ rồi mới về thành Mesna ở một tháng, sau qua thành Zante thuộc về nước Hy Lạp ở hai tuần lễ, đến tháng hai năm thứ 17 và tháng năm 1864 mới trở về đến Sài Gòn (Gia Định) ở với Đức Cha Hòa (Croc khi ấy ngoài chưa làm giám mục) đến năm Tự Đức thứ 19 là năm 1866 thì về Nghệ An và chịu cắt đến chức sáu trong một tuần lễ.
 
“Đến tháng 8 năm Tự Đức thứ 19 là tháng 7 năm 1865, bộ đòi vào kinh mà đi tới Đức Cha Hậu và quan Thượng lại Nguyễn Tăng Doãn, đến tháng giêng năm Tự Đức thứ 21 là tháng 2 năm 1868 mới về đến kinh, khi ấy vua ban cho 10 nén bạc và lụa các thứ tám tấm, qua hai năm ấy, tôi xin về nhà thì vua ban cho mẹ tôi mười quan tiền, sang tháng 3, bộ đòi tôi vào kinh, đến tháng 4 nhuận năm ấy, tôi lại xin về Nghệ An. Đến tháng 8 năm Tự Đức thứ 21, là 2-8 năm 1868 thì tôi chịu chức thầy cả. Chịu chức rồi, ở lại nhà chung đến tháng 10 thì bộ đòi vào kinh mà dạy học. Tháng chạp năm Tự Đức thứ 22 tôi lại xin về Nghệ An, đến tháng giêng năm 23 vào kinh tháng 2 năm ấy, bộ sai đi Hong Kong, đến tháng năm mới về kinh tháng chạp năm ấy tôi lại về Nghệ An, sang tháng giêng năm Tự Đức 24 vào kinh, đến tháng 4 năm 25 là năm 1872, bộ sai vào Sài Gòn mua sách Tây cho học trò học, tháng 6 về kinh tháng giêng năm sau là năm 1873, tôi xin về nhà nuôi mẹ thì vua chỉ cho về 1 tháng mà thăm và người ban cho mẹ tôi 100 quan tiền nữa, tháng 2 vào kinh, sang tháng tư bộ lại sai đi Hông Kong, Quảng Đông và Mô Cao, đến tháng năm ấy, bộ tư lệnh sang đòi về Sài Gònmà đi bên Tây với quan Sứ, về Sài Gòn mà chưa đi bên Tây, đến tháng 11 Bắc Kỳ mất 4 tỉnh (Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội, Hải Dương), tôi lại phải về kinh ra Bắc Kỳ, tháng giêng năm sau là Tự Đức 26 (năm 1874) lại về kinh. Khi ấy vua ban cho Kim Khánh 4 chữ ”Kham – Tú – Tín - Cần” và hai nén bạc, rồi vào Sài Gòn với quan Sứ.
 
“Ngày 27 tháng giêng năm 27 là 17 tháng 3 năm 1874, làm hòa ước rồi về kinh, sang tháng 6 năm ấy vua lại ban cho mẹ tôi 100 quan tiền lấy tại kho tỉnh Nghệ An và sai tôi vào Sài Gòn. Đến tháng 9 làm thương ước rồi mới về kinh, sang năm 28 là năm1875 vua lại ban cho mẹ tôi 200 quan tiền và cho tôi chức Tử Vụ song tôi không chịu chức ấy, thì vua lai ban cho chức Quản Hành Nhân và ban thẻ ngà cho được mang mà ra vào trong đền vua làm việc với quan, tháng chạp năm ấy, năm 1875 tôi xin về thăm mẹ một tháng, rồi lại vào kinh, sang tháng 10 năm 29 là 1876 thì có chỉ sai ra làm Tham biện Thương Chánh tại Hải Phòng, tỉnh Hải Dương. Đến tháng 4 năm 31 là năm 1878 thì vua đòi về kinh, khi về đến tỉnh Nghệ An, thì được thư nhà quê tin mẹ tôi chếtngày 13 tháng 6 Tự Đức 31 là 1878. khi ấy tôi xin ở nhà và chiệu chế cho mẹ, xong đến tháng 8 năm ấy thì vua lại ban cho tôi quan tiền và đòi vào kinh, đến tháng 2 năm 32 thì vua cho lên chức Chủ sự xong tôi cũng không chịu, đến tháng bảy lại sai ra làm Tham biện Hải Phòng nữa. Lúc ấy vừa có sứ Tây Ban Nha đến thì phải ở lại kinh, đến tháng 3 năm 33 (1880). Thì xin về hai tháng mà lo việc giận mẹ tôi. Khi ấy vua ban cho tôi 100 quan tiền, về đến Nghệ An và lo việc giận là 20 tháng 5 nhờ ơn Đức Cha Hòa thì đã rước được Cố Trị (khi ấy ngài chưa làm giám mục) và cố phê cùng bốn cụ và người nhà chung giúp việc ấy. Sang tháng sáu rồi lại vào kinh đến Đinh Cầu thì phải bệnh nặng ở lại đó hai tháng, sang tháng tám mới vào kinh. Tháng 5 Tự Đức 34 là năm 1881 tôi dâng điều trân xin nhà nước ở với nước Pháp cho phải lẽ hơn kẻo sinh sự khó. Khi ấy ông hai ông quan có lòng ghét người tây đã tâu vua rằng: tôi ở Hải Phòng, mà xin cắt chức và giao về quan tỉnh Hà Tĩnh quản thúc: khi ra Hà Tĩnh vì các quan đã biết tôi có lòng trung mà bắt tội oan nên ở với tôi lịch sự lắm, muốn đi đâu mặc ý.
 
“Về Hà Tĩnh được 5 tháng, thì Đức Cha sai tôi ở xứ Kê Nhím (1882) trong năm ấy tôi về quê xây lăng cho mẹ tôi và làm nhà cho anh tôi. Sang năm 36, là 1883 thì tôi khẩn đất xã Mỹ Khê cho bà con nhờ. Đến 6 tháng 10 năm ấy tôi được thư và sắc cùng Ngôi sao (décoration del’ordre lsabelle Catholique) quan Thủy bộ Thượng thu nước Tây Ban Nha gửi sang cho tôi phần thưởng vua nước ấy thưởng tôi. Đến tháng 10 năm Kiến Phúc thứ nhất là tháng 10 năm 1884 bộ lại đòi vào Kinh làm Bang Biện Hành Nhân Ty. Tháng chạp năm ấy thì bộ sai vào Sài Gòn mà mua sách Tây. Đến tháng 2 Hàm Nghi nguyên niên, về Kinh, sang tháng 3 thì Cơ mật sai về Nghệ An mà bàn với Đức Cha Hòa một hai việc cho được đi Tây. Khi về Nghệ An là tháng 5 năm 1885 tôi ở nhà chung hai tháng thì bộ tứ ra đòi vào Kinh. Ngày 22 – 5 năm ấy là tháng 6 năm 1885 tôi lên đường mà vào Kinh, đến Hà Tĩnh là tháng 5 vừa được tin Kinh đô thất thủ, khi ấy tôi cũng cứ đi vào đến Kinh là mồng 8 tháng 6, song còn ở lại nhà mẹ cháu tôi tại họ Dốc Sơ gần thành, đến 3 tháng 7, quan Cơ mật và quan Khâm sứ tư xin Đức Cha Hòa cho tôi làm việc, thì tôi mới chịu vào Thương Bạc mà làm Tham Biện Thương Bạc. Đến tháng 8 năm ấy (1885) thì lên chức Hồng Lô Tự Khanh kiêm chức Tham Biện Viện Cơ Mật. Sang tháng 9 năm ấy thì vua cho anh tôi chức lục phẩm tại gia cùng 2 con anh tôi làm ấn từ khỏi vua quan lính tráng và thuế thân. Tháng 11 vua cho tôi được lệnh xuân phục, đông phục như Quan Nhất Phẩm, tháng chạp thì cho phép khi có việc được vào tâu miệng cho mau không phải làm sớ sách, lại ban lời dụ mà khen cùng ban thẻ vàng khắc bốn chữ Trung Can Thẻ Quốc, khi ấy quan lớn Bộ Lễ và Nội Các nước dụ cùng thẻ vàng cách trọng thể ra nhà tôi mà ban cho tôi.
 
“Vua cũng truyền thông lục dụ ấy ra khắp cả nước cho người ta biết ơn trọng vua ban cho tôi, song tôi nghĩ chưa mấy người hiểu lẽ phải, mà lục dụ ấy ra thì sinh nhiều điều không tiện cho Nhà Nước”.
 
Đến tháng giêng năm Đồng Khánh nguyên niên là 28 tháng giêng 1886, thì lên chức Lễ Bộ Lang mà kiêm việc Cơ Mật, cùng quản Hành Nhân Ty, đến tháng 3 năm ấy, thì vua ban tượng của vua cho.
 
“Sang tháng 4 tôi tâu vua xin thôi việc cơ mật, vua giao cho Triều đình xét mà không cho thôi việc ấy, sang tháng 5 năm ấy, vua ngự đi các Tỉnh mà dẹp giặc. Khi ấy người đặt tôi làm Quan Phụ Tế Đại Thần cùng ban gươm vàng và áo Ngự Tiền Phụ Tế. Ra đến tỉnh Quảng Trị huyện Chiêu Linh thì tôi kiếu lệnh mà về, vua cũng cho song người châu phê: Khi có cho đòi thì vào Kinh mà làm việc. Ngày 1 tháng 7 là 31 tháng 7 năm 1886, tôi trở về Kinh mà dọn đồ mà về Nghệ An. Ở Kinh mà về là 13 tháng 7 đến 19 tháng ấy là 22 tháng 8 đến nhà chung. Ở tại nhà chung ít ngày rồi về quê nhà, tháng giêng năm Đồng Khánh thứ 2 là tháng 2 năm 1887 tôi xin Bề trên nhà tậu đất xã Đông Áp mà lập họ Phương Tân cùng đem nhà thờ họ ấy sang đó. Đến 27 tháng 8 năm 1887, Bề trên sai xuống ở tại tỉnh Hà Tĩnh mà lo việc phần xác cho bổn đạo, sang đạo, sang ngày 12 tháng 10 năm 1888 lại xuống xứ Trung Nghĩa thế cho cụ Huấn vì Người đau. Ngày 19 tháng 11 năm 1889, Bề trên sai ra lập xứ Yên Hòa thuộc huyện Quỳnh Lưu, tổng Hoàng Mai.
 
“Tháng 3 năm 1890, xã Vũ Duyệt nhượng cho tôi đồng Trang Hộ và tôi lập một họ bổn đạo mới. Ngày 29 tháng 6 lập họ bổn đạo mới là Nhạc Sơn (làng Mít). Thành Thái nhị niên tháng 5 ngày 21 là tháng 7 năm 1890, làng Hải Lệ và làng Di Nậu nhường cho tôi đất sác gần lèn Ba vai giáp địa phận hai làng ấy. Năm 1896, lập hai làng là Đồng Xuân, Du Xương, huyện Quỳnh Lưu, từ tháng 4 năm 1896 về sau Bề Trên sai vào Hà Tĩnh mà lo việc kiện đất Vĩnh Phước, Kỳ La, Nhượng Bạn, tháng 3 năm 1897 thì lập nhà xứ Trang Đình, nhận đất Chính Trung, lập làng Huệ Hòa, khẩn và kiện Nham Xá lấy địa phận lại cho làng Tiếp Võ (bổn đạo mới) năm 1896 đến 1899 tư bộ xin hưu trí Premier Assesseur du Ministère des Rites) mà hưu trí.
 
“Năm 1902 làm nhà thờ Yên Hòa rồi ngày 19 tháng 12 năm ấy rước Đức cha Trị ra làm phép. Sang năm 1903, khởi sự làm nhà thờ họ, đến ngày 11 tháng giêng năm 1906 đức cha Trị làm phép.
 
“Đến năm 1909, ngày 5 tháng 12 cũng là ngày 23 tháng10 năm Duy Tân thứ 3 người qua đời giờ thứ năm trước sáng tại Yên Hòa (Hoàng Mai). Đến năm Khải Định thứ truy tặng Hàm Thượng Thứ Tước (Hoàng Đế Nam). 
 
                                                                                                  P. HOẰNG
 
(Đinh Thế Khiêm trích từ “kỷ yếu Năm Thánh Giáo phận Vinh trang 71-75. Tòa Giám mục Giáo phận Vinh, ấn hành tháng 5-1992).
 
(1) Trích SACERDOS tháng 1 năm 1936, trang 453 và tháng 2 trang 498-500
 
(2) Đi tu làm linh mục.
 

 

Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn