23:45 ICT Thứ tư, 13/12/2017

Các mục chính

      Linh mục quản xứ Nghi Lộc

       Giuse Nguyễn Văn Chính

 

Gx. Nghi Lộc online

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 54

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 51


Hôm nayHôm nay : 15830

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 191214

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 35221367

Trang nhất » Tin tức » Tin tức quê hương » Lịch sử quê hương

Lịch sử: B - Phần lịch sử (bài đọc thêm)

Thứ bảy - 08/05/2010 13:35
Lịch sử: B - Phần lịch sử (bài đọc thêm)
4. Biến cố Thiêu sát năm Giáp Tuất (1874).

 

 

 

 

BÀI ĐỌC THÊM: DÂN KHỔ KHIẾU NĂM GIÁP TUẤT (1874)

 

Cúi đầu lạy Giám mục Đường (1)
Ân tiền soi xét mà thong dân lành
Chúng con bổn đạo Đông Thành (2)
Thôn dân Nghi Lộc chân rành đạo dân
Dâng tau kể nỗi gian truân
Xin người thong tới muôn phần oan khiên

 

Năm Giáp Tuất, tiết tháng Giêng
Hung đồ cừ mục hai thằng Tấn Mai
Rủ rê một đảng vô loài
Những phường bát quỉ tam tai mặt mày
Phương dân cờ ngụy gió bay
Lịnh truyền giết đạo đợi ngày yên lương
Tưởng năm ba đứa hung cường
Bình dân ai cũng yêu lương độ nào
Ai ngờ tỉnh hạt thân hào
Cũng phường bát quỷ cũng màu vô dân
Rặt nòi hai vật tàn dân
Chẳng vâng phép nước, chẳng tuân đạo trời
Phải chăng chẳng xét chẳng soi
Theo bài bạo ngược hại người thiện lương
Bao nhiêu đàng sá đò giang
Nơi năm đứa, chốn mười thằng đứng canh
Đời liên lạc, đạo linh tinh (3)
Tuy không ly tiết cũng hình như giam
Kéo người phạt Bắc chinh Nam
Dong chi quân dữ mà giam chiên lành
Xa xôi chỉ mấy tỉnh thành
Mà không tiên liệu cho mình giải vi (vây)
Dân tôi toàn đạo quản gì
Những thương linh lạc tư bề đạo dân
Thế cô chẳng biết liệu dần
Những nghe sở tại thôn dân lừa mình
Đến khi gươm nó tung hoành
Kẻ yêu mà lại bắt mình mà dung
Bảy ngày lửa cháy tưng bừng
Một mùi đạo vị ngát lừng phương dân
Đến ngày mười tám giờ Dần (4)
Bỗng đâu thấy một đạo quân vài nghìn
Từ chợ Si tiến binh lên
Một đồng đóng chặt trước đền Đào Viên (5)
Bây giờ tổng nội nhân viên
Nào cai phó tổng, với bên thân hào
Nào là cơm rượu trầu cau
Nào là binh sĩ một màu khác chi
Lại truyền bố trận bài vi
Súng cờ nạp bắn, quân kia thốc vào
Quân ròng song kiếm siêu đao
Mác, dòng, khiên, mộc áp vào bốn bên
Qua giờ Mạo tới giờ Thìn (6)
Lại thêm một đội binh quyền vài trăm
Tiến binh từ mái Đông Nam
Biển rung, cờ trống, quân nghiêm rợp dàng
Quân reo, trống giục, cờ dong
Ập vào vây chin mười vòng còn dư
Bình dân nó cũng thừa cơ
Đua nhau một lũ vây hờ chen vai
Đứa thì nhạo đạo Chúa Trời
Đứa thì chưởi rủa những lời nhuốc nha
Tranh nhau một bức rào sưa
Trong còn ngăn ngáng, ngoài chưa được vào
Đất bằng nổi trận binh đao
Khổ điều dân ít, giặc nhiều khó dương
Kẻ vào cầu nguyện thánh đường
Kinh dân một ngọn neon hương khan cầu
Đánh nhau trót nửa ngày thâu
Trong ngoài giáp mặt với nhau lá cà
Mấy khi mà giặc đến nhà
Đàn ông có ít đàn bà phải lo
Kẻ thì vác vại, quăng vò
Giáo, sào, gay trúc cũng lùa, cũng đâm
Ơn Trên soi tới lòng phàm
Từ loài con trẻ cũng nhàm, cũng vui (7)
Qua giờ Ngọ, tới giờ Mùi (8)
Lại thêm một đạo mái Đoài tiến binh (9)
Ba trăm thần vũ uy linh
Quan thì võng ngựa, quân tinh gươm trần
Một loài tặc tử loạn thần
Vọng khinh pháp quốc phân vân thiên thường
Sá chi tổng nội lân bàng
Hiệp đồng ứng tiếp chật đàng như nen
Lại sai vây phủ mặt tiền
Trước ba vòng kín, sau nên bày vòng
Súng cò nổ phát đi đùng
Quân dàn dưới rộc (10), trên đồng khắp nơi
Tướng thì cờ phất lừng trời
Quân thì gươm múa một thôi xông vào
Khen cho mấy mặt anh hào
Nửa ngày phá bức bờ rào không xong
Đánh liều mới áp vào trong
Khiên che, dao chặt, mác dòng kề theo
Đứa thì phá lũy chặt pheo
Đứa thì rơm bổi đội theo đốt bờ
Đứa thì tháo ván phá nhà
Nong, nia, phên, vách đưa ra che mình
Có thằng cai ngũ đầu binh
Mâm thau dạt áo, liều mình nhảy qua (11)
Tài nên cột chống nước nhà
Bởi vì nghịch mệnh hóa ra oan hồn
Tiếng rằng đời, đạo phôn lôn
Gián cư một ấp môt thôn cửa nhà
Cho nên nỗi phải thất cơ
Vì chung quân dữ đốt nhà lương dân
Ở thời chung ngõ, chung sân
Cháy đời đạo ắt có phần liên can
Ầm ầm một ngọn lửa lên
Cháy tan bờ cõi cho liền tre pheo
Bây giờ thế đã hiểm nghèo
Thôi thời ngộ biến phải liều mới xong
Hết lòng ra sức tranh phong
Hung đồ đã lọt vào vòng hơn trăm
Hai mươi quân chiến máu dầm
Nước xuôi, sào sậy khôn cầm bè lim (12)
Đông, Tây, Bắc hãy còn im
Cõi Nam thất thế đã tìm đường lui
Quân kia thừa thế đuổi dài
Lọt vào đốt cháy đã hai phần làng
Bây giờ hết thế, cùng đường
Đồng tâm hết sức tranh hùng một phen
Tài thần, gan thánh giúp nên
Tráng ngươi chính trực, lão bên gian tà
Đánh tan một trận trong nhà
Đạo thương bốn tráng, đời vài mươi tên
Trống cờ, giáo mác dao khiên
Quăng ra ngan ngác kể nghìn kể trăm.
Đánh rồi ra mái Tây Nam
Hung đồ tán loạn ầm ầm một phen
Đạo ra ai dám tranh cường
Giết loài hung nghiệt tìm đường giải vây
Đâu giờ Thân (13) lúc ban ngày
Mù sa lác đác, khói bay rà rà
Quân kia dàng lạ nhà xa
Quân chưa biết tướng, tớ chưa quen thầy
Người Nam Bắc, kẻ Đông Tây
Biết ai Tả, Hữu, biết ai Hậu, Tiền
Lộn mề, lạ cũng như quen
Đông, Tây đánh chắc, Tả tiền chém nhau
Sá chi thứ dân phu đoàn kiến tể (14)
Bởi vì thầy đem giết tớ đi
Đứa thì quen nết phi vi
Đứa thì tham của, tham thì lại thâm
Song khi binh nhậm tướng tầm (15)
Đạo đâm được một, đời lầm đến ba
Bởi vì tướng góp quân đong
Cả thương tiền tệ, phỏng ba trăm người (16)
Đạo dân trận tệ hết hai
Bị thương trọng tích một người là ba
Giặc yên dân lại đất đai
Ơn trên con trẻ, đàn bà bình yên

 

Người bàn ở lại cũng nên
Kẻ rằng nhà cháy cửa tan còn gì?
Vậy nên quyết kế ra đi?
Bảo dân ai nấy đồng thì phải ra
Thương những kẻ mắt lòa chân yếu
Cùng nhiều người giăng díu con thơ
Kẻ thì khủng khiếp ngẩn ngơ
Còn đang trốn bụi, nằm bờ nín hơi
Tử sinh phó mặc tại trời
Đành lòng ở lại bốn mươi lăm người
Tưởng là sự đã qua rồi
Chắc rằng “khổ tâm, cam lại” đã mừng (17)
Ai ngờ tổng nội lân bàng
Đem nhau vây giết lại càng gian nan
Ngày hai mươi cuối giờ Dần (18)
Trông ra bốn phía thấy quân đen sì
Ập vào phá lũy chặt tre
Dỡ nhà lấy của bắt me, bắt bò
Người thì đốt cháy ra tro
Người thì chết chém xương khô đầy đồng
Đào cây bới rễ sạch không
Cửa nhà đốt hết sạch không làu lì

 

Người ở đó đã gian nguy
Nỗi người hôm nọ ra đi càng ngầy
Có thôn Tú Mỹ đầu Tây (19)
Cũng phường giết đạo, cũng tay đốt nhà
Toan ngán lại chẳng cho ra
Ực tình nên phải đốt nhà mà đi
Qua nạn ấy, thấy nạn kia
Giặc nhà khổ một, đàng đi khổ mười
Dặm ngàn sương tuyết xa xôi
Đường dò nước đất, phương sao coi trời (20)
Tối tăm không tỏ mặt người
Mắt thì trông bóng, lỗ tai nghe bùng
Bước cao bước thấp ngập ngừng
Người bồng con trẻ, kẻ nưng (nâng) cha già
Người tình kẻ hiếu xót xa
Chân đi một bước, lệ sa đôi hàng
Người đang bệnh, kẻ bị thương
Chân đi dìu dóng, bước đường lôi thôi
Đầu giờ Tuất, mới canh hai (21)
Hôm tăm đàng lạ lạc loài ba tên
Thôn Yên Phú, lý tưởng Biền
Bắt người lấy bạc lại truyền giết đi
Một tên thoát khỏi ra đi
Qua làng Chiêu Vật tìm đi ẩn mình
Có tên Lý Bổng bạc tình (22)
Sai người bắt lại, gia hình chẳng tha
Ba tên tráng hạng cả ba
Hai thằng hạ thủ đã tra đích tình
Hỏi rồi trống điểm ba canh (23)
Hết điều đói khát khổ tình biết bao
Người tìm giếng, kẻ tìm ao
Quản chi nhóp sạch, biết đâu dữ lành
Có dân cồn Cát cưu tình
Tìm vào uống nước, nghỉ mình, nghỉ chân
Thằng Đồ Quý ở bất nhân (24)
Nỡ lòng đem nộp đạo dân ba người
Một ông tuổi ngoại chín mươi
Đàn bà con gái hai người là ba
Nộp vào nó lại đem ra
 
Chính nơi nó chém, quán bà Bánh Rang
Mắt trong ai cũng đoạn tràng
Dẫu người gan đá lòng vàng cũng nao
Chặt tay rồi lại chém đầu
Mổ gan, cắt ruột, lại nhào xuống sông
Ấy nơi cồn các đã xong
Lại thêm gia hộ càng nồng càng ghê
Cũng trong một lũ ra đi
Có người giặt chém máu me đầm đìa
Bụi bờ ẩn bóng đêm khuya
Tưởng rằng tạm nghỉ lại đi theo làng
Ai ngờ có búa hung cường
Nó đem đi giết, không tường nơi nao
Gian nan trải đá bến cầu
Canh tu vừa tới Đăng Cao Thôn Đài
Gian nguy trước một giờ mười
Một lần gian khổ gấp hai bốn lần
Tuần, lâm tường, trưởng, cường hào
Lão rang, tri dục một màu bất nhân
Trùng hưng, tri huyến ngoan ngôn
Sáu thằng theo bắt dạo dân đem về
Có thằng bắt được chém đi
Có thằng đem nộp chợ si gia hình
Đàn ông hết tràn dinh
Ba người phụ nữ là thành mười hai
Canh tư đã mắt thôn đoài
Canh năm lại bị lấy người thông đông
Tú giải, tú xuất, đội phong đông
Sai quân thủ hạ với cung đình phu
 
Thuyền ra bắt chúng ta đô
Bấy giời có một hung đồ ra theo
Dạo dân chảng khác chi bèo
Một cơn sóng gió trăm chiều hộp tan
Kiếp người chí mấy gian nan
Một đoàn chiên lạc mấy lần tang thương
Ối cổ đế với kinh vương
Đời nào độc giữ hơn phường này không
Tội gì trẻ mới lọt lòng
Nỡ nào mà chém nảy trong con ngươi
Tội gì kẻ mới có thai
Nỡ nào để sống lại thêm gia hình
Bắt người trói lại hai hàng
Đi đâm lại chém đoạn tràng biết bao
Một ngày trót một đêm thâu
Hãy còn giam lại nơi cầu chợ Phan
Người thì giáo phóng vào sườn
Người thì gươm nó chém càn khắp nơi
Trán đinh nó giết bốn người
Bảy người phụ nữ là mười một tên
Người nộp xuống kẻ điệu lên
Kẻ còn giam lại nơi miền dân kia
Tử sinh cam thụ một bề
Dốc lòng chờ chúa chẳng hề đơn sai
Đông thôn nó chém hai người
Chín người đem nộp lý trai, đò Bùng
Chém rồi lại bỏ xuống sông
Kẻ sau, người trước cũng đồng như nhau
Yên thành vừa khỏi Đăng Cao
Quỳnh lưu lại mất ngũ bàu, thôn yên
 
Thoát cao đông lại lạc đàn
Yên điều bắt lại chợ Phan gia hình
Cũng trong dân xã bàu yên
Có nguời trung tiến bảo hiền nết na
Thấy người khổ cũng xót xa
Cũng đem cơm nước, của nhà cho ăn
Thương người chẳng quản khó khăn
Lại còn cứu được đạo dân ba người
Nhân dân đêm vắng canh dài
Đem ra Thuận Nghĩa, tới nơi lại về
Nổi đàn bảy lúc nặng nề
Nỗi nề đất khách nhiều bề gian truân
Thân sao thân khổ bấy thân
Kiếp này đày đọ muôn phần chẳng tha
 
Phần bèo đành chịu sáng đưa
Kẻ nào thuận nghĩa tưởng là an thân
Cũng phân đội ngũ tòng quân
Cũng canh năm trống, cũng tuần năm sương
Ơn lòng củ huệ cũng thương
Một ngày hai bữa: khi lương khi tiền
Tuy quỳnh lưu với đông yên
Trong lòng thương xót như chi một nhà
Sân hiền cửa thánh vào ra
Tái sinh đức ấy xem đà bằng con
Nương thân vừa nửa tháng tròn
Bỗng đâu có kẻ lại còn đem tin
Đông lấy, Phúc Trạch, Kim Loan
Đông, cao bốn họ lạc ngàn bơ vơ
Bảy mươi, nam phụ trẻ già
Đang còn ẩn lánh biết lam sao?
Phận mình đành vậy quản bao
Nghe người liêu lạc cũng đau đớn lòng
Nhủ nhau sắm sửa mát lòng
Quản chi máu thắm rừng cùng tim đi
Dặm nghìn xương tuyết canh khuya
Mấy đèo cũng vược mấy khe cũng dầm
Mới hay thanh khí tương tầm
Người cốt nhục, kẻ sắt cầm lìa nhau…

 

(1) Đức Giám mục Ngô Gia Hậu (Mgr Gauthier)
(2) Huyện Đông Thành nay là Diễn Châu, tỉnhNghệ An. Thời bấy giờ (1846) cả huyện chỉ có một xứ đạo với 3470 giáo dân và hai Linh mục (Theo phúc trình ĐGM Ngô Gia Hậu gởi Tòa Thánh ngày 13-2-1853)
(3) Người công giáo ở rải rác lẫn lộn trong dân bên lương
(4) Ba giờ sáng ngày thou sáu 6.3.1874
(5) Đền tọa lạc tại xóm Chợ Chúa (Hữu Lộc) về hướng Đông nam Nghi Lộc.
(6) Mão: 6 giờ, Thìn 8 giờ
(7) Nhàm: coi thường không sợ
(8) Ngọ: 12 giờ; Mùi: 14 giờ
(9) Từ phía Tây tiến tới
(10) Ruộng lúa sâu
(11) Mâm thau dạt áo: áo giáp đồng
(12) Thế địch mạnh khó chống nổi
(13) Thân :16 giờ, đầu giờ Thân :15 giờ
(14) Đoàn kết: Danh từ gọi những quân sĩ mà Tôn Thất Thuyết chiêu tập và rèn luyện ở Đàng Trong: ý nói quân cảm tử
(15) Quân kiếm tướng, tướng tìm quân
(16) Vừa bị thương, vừa tử trận
(17) Hết đắng tới ngọt, hết khổ tới sướng
(18) 4 giờ sáng ngày Chủ nhật 8-3-1874
(19) Đầu thôn Tú Mỹ phía Tây: xóm Ngoài
(20) Đêm tối nhìn nước sáng dưới đất để nhận đường đi
(21) Khoảng 21 giờ
(22) Lý Bổng làng Chiêu Vật từng quen thân với Nghi Lộc
(23) 23 giờ
(24) Đồ Quý trước kia đau ốm thường đến nhà ông Quảng Đường cắt thuốc và nhờ cậy, được ông cứu sống

 

------------------

 
ĐƠN XIN LƯƠNG (1)
 
Cúi đầu lạy đức cha trăm lạy
Lương bao hàm dân dại con chiên
Nguyên chúng con bổn đạo đông yên (2)
Bị thiêu sát cha đã tường chung thủy
 
Từ chúng con tới quỳnh lưu thuận nghĩa
Bữa hôm mai ấp cật đã no lòng
Lại được nhờ hai cụ bao dung (3)
Ban tiền bạc đã nhiều hơn nặng
 
Nay trót đã hai tháng trời đằng đẵng
Ngày càng thêm lương lại càng nghèo
Dẫu đói no bữa ít, bữa nhiều
Ngậm cay đáng cho đầy ngày tháng
 
Trên hai cụ đã hết lòng lo lắng
Dưới dân phường đều khánh liệt gia tài
Trước cho ăn bữa được ngày hai
Nay thiếu thốn không đầy ngày một
 
Tuy người cũngcó lòng thương xót
Hữu hằng tâm, vô hằng sản biết sao (4)
Vả bấy lâu giặc giã xôn xao
Nỗi đàng xá đi về gian khổ
 
Nay gặp dịp quan trên khai đạo lộ (5)
Chúng con một bức trân tình
Dám xin cha xuống phúc tái sinh
Chẩn cứu lấy lũ chiên lành xiêu lạc
 
Nhờ lượng cả hãy ban tiền phát bạc
Cứu chúng con cho khỏi vận cơ hàn
Hay cha nhờ phép nước quyền quan
Đem lại huyện về nhà chung thì hay lắm
 
Trời cao bể thắm
Tớ đói đến kêo thầy
Phận chân sáng bèo mây
Mặt ơn trên thương dạy
 
Cúi đầu lạy Tòa Giám mục đại nhân
 
Trước án ân cần
Sau dân tình cơ khổ,
Khêu đèn trời cho tỏ
Soi nơi khuất chúng con
 
Nỏ may thay tiếng khóc thấu trời
Miễn lại được vạn kỳ cơ tử

 

Hai Bài Dân Khổ Khiếu và Đơn Xin Lương do Ông Phạm Đường (1817-1917)
Tự quản đường soạn thảo, gởi Đức Giám Mục tiên khởi giáo phận vinh Ngô Gia Hậu (gauthier)
Tài liệu này tìm thấy trong tập tài liệu chép tay của ông Đinh An, Nghi Lộc, chép năm 1932. Đình Quang chú giải. Tiểu sử tác giả xin xem bài đọc thêm.


(1) Bài này do ông Quảng Đường làm gởi trình ĐGM địa phận (Gauthier) lúc nhân dân đang ở thuận nghĩa. Sau khi chạy khỏi nghi lộc được 60 ngày.
(2) Họ Nghi Lộc thuộc xứ Đông Thành, Hạt đông yên.
(3) Cụ: linh mục
(4) Có lòng mà không có của
(5) Mở đường thông thương

 

------------------

 
VĂN THÂN NGHỆ AN (1)

 2.1875 (Tháng Giêng năm Giáp Tuất, Tự Đức thứ 27)

Ở Nghệ An dưới sự lảnh đạo của Trần Tấn và Đặng Như Mai, hội hộp tất cả Văn Thân, rồi làm một bài hịch Bình Tây, Sát Tả Đại lược như sau “Triều đình dẫu hòa với Tây mặt lòng. Sĩ phu nước Nam vẫn không đồng ý vậy nước mất xin giết hết giáo dân rồi sau đánh đuổi người tay cho hết, để giử lấy có văn hóa của ta đả hơn nghìn năm nay…”

Thực ra ngay sau thấy triều đình ký hòa ước nhâm tức, Văn Thân đã đưa ra lệnh:

“Chúng ta còn có thời gian để ngăn cản những tai họa bằng cách giết sạch bọn côn giáo. Bằng không, về sau này lúc chúng tăng lên và trở lên mạnh, chúng ta chỉ ngồi chờ chết”

Đến hòa ước giáp tuất, Văn Thanh cho là Triều Đình thỏa hiệp với giặc, Vua không còn là thiên tử nữa, không còn xứng đáng ngồi trên ngai vàng. Họ đã khơi nghĩa chống lại triều đình Huế thỏa hiệp với giặc, diệt trừ những phần tử theo Thiên Chúa Giáo làm tay sai cho giặc. Cuộc khởi nghĩa diễn tiến như sau:
 
1865 - Thừa sai Pháp tên Việt gọi là Chu đến thuyền giáo ở hai thôn Bà Thạch Và Mạc Vĩnh (2), thuộc hai huyện Thanh Chương Và Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Trần Tấn (đỗ tú tài) cùng với học trò Đặng Như Mai và một số khúc như: Phan Điễm (phó Tổng) Hoàng Đức Đề, Nguyễn Mĩ Nghi, Nguyễn Văn Vinh đã quyết liệt phản đối, huy động một số người đến đốt phá nhà thờ và một số nhà giáo dân.


4.1866 - Thừa sai chu Tố cáo việc này lên bộ Lễ. Tự Đức ra lệnh: đánh 100 trượng và phát liêu Phó Tống Phan Điễm, đánh 80 trượng và thu văn bằng bang biện của Trần Tấn. còn 7 người khác đều bị đánh trượng và phạt giam.

5.1866 Giám mụcGtauthier chưa thỏa mãng, khứu nại lên bộ lễ. Tự đức quyết định: sử chém, nhưng giam đợi xét thêm (trảm giam hậu) tất cả những người chủ mưu vụ đốt phá nhà thờ năm1865.

Riêng Trần Tấn vì có mẹ già ốm nên tạm tha. Chính trong thời gian này, Trần Tấn đã làm thơ, văn kịch liệt lên án thực dân Pháp, triêu đình Huế, đặc biệt lên án giáo dân theo giặc.

5.1872- Để chuẩn bị cho việc kí kết hiệp ước với Pháp, triều đình Huế cử Ngụy Khắt Đảng đi giàn xếp việc bài xích thiên Chúa Giáo do Trần Tấn phát động ở Nghệ An.

Trước thái độ của triều đình, Trần Tấn và Đăng Như Mai đã phát động nhân dân nổi dậy “quyết đánh cả Triều lẫn Tây” vào tháng 2.1874, văn thân cả thảy độ 3.500 người kéo nhau đi đốt phá những làng có đạo.

Lúc bấy giờ quan Tổng đốc Nghệ An là Tôn Thất Triệt, Triệt có ý dung túng Văn Thân, nên họ càng đắt thế, càng phá dữ. Vì triều đình không có biện pháp bảo vệ nên đức cha Gauther cho phép giáo dân cầm khí giới tự vệ. Dù vậy đã có 4.500 giáo dân bị chết, 300 họ đạo bị phá hủy.

15.3.1874 Đức ký hòa ước với Pháp, rồi sai Nguyễn Văn Tường làm khâm sai và Lê Bá Thuận đứng đầu. đi dẹp Văn Thân.

Từ bấy giờ văn thân không còn giết giáo dân nữa nhưng quy ra chống chính quyền.

30.5.1874 văn thân chiếm Hà Tĩnh cách mấy ngày lại lấy 5 phủ thuộc Nghệ An.

Thế giặc càng to, Triều Đình càng đem quân đàn áp mạnh. Trần Tấn và Đăng Như Mai rút về rừng, tiếp tục kháng chiến.

9.1874 Trần Tấn luôi về huyện Cam Môn, sau đó bị bệnh chết. Con là Trần Hương tiếptục kháng chiến, nhưng sau bị bọn Tống Lý xã Hữu Bình, huyện Thanh Sơn bắt đem nộp pháp.

Đặng Mai Như chiếm phủ quỳ Châu lập căn cứ. Sau bị nội phản bắt giao cho triều đình và bị xử tử ngay.

Cuộc “Khởi nghĩa Giáp Tuất" bị dập tắt.
 
(1) Theo LM Nguyễn Văn Trinh, sđđ trang 274-277, Đinh Thế Khiêm trích dẫn.

(2) Mộ Vĩnh? Đinh Thế Khiêm

 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn