01:20 ICT Thứ bảy, 19/08/2017

Các mục chính

      Linh mục quản xứ Nghi Lộc

       Giuse Nguyễn Văn Chính

 

Gx. Nghi Lộc online

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 34

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 32


Hôm nayHôm nay : 138

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 243493

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 33172667

Trang nhất » Tin tức » Tin tức quê hương » Lịch sử quê hương

Lịch sử: B - Phần lịch sử (tiếp theo)

Thứ bảy - 08/05/2010 13:15
Lịch sử: B - Phần lịch sử (tiếp theo)
4. Thiêu sát năm Giáp Tuất (1874) - 5. Tái lập hoà bình.

 

 

 
 
 
4. THÊU SÁT NĂM GIÁP TUẤT (1874)
 
Những cánh mai vàng còn khoe màu trước gió, những đoá hồng đào đang đua nở dưới trời xuân. Đàn chim tung cánh líu lo đùa vui trong nắng ấm. Khi xuân còn đầy hương vị xuân còn đậm. Lòng người đang hoan hỉ với bao ước vọng buổi xuân sang.
 
Trong cái không khí thanh bình đầm ấm ấy, không ngờ “đất bằng sống dậy”. Không ngờ những cuộc đổ máu giữa người Việt cùng chung nòi giống lại tàn sát giết hại nhau, chỉ vì một thanh kiếm, một sự hiểu lầm!
 
Hôm đó là ngày thứ Sáu, 18 tháng Giêng năm Giáp Tuất (6.3.1874) một cuộc ác chiến đã xảy ra, mà lực lương đôi bên quá chênh lệch: một đàng trên 4000 tướng sỹ, đinh phu tráng kiệt khắp nơi, một bên là dân quê nghèo nàn đói rét gồm cả già lẫn trẻ không quá 200 người. Một bên có gươm đao, súng trận khí giới đàng hoàng, một đàng chỉ có đôi tay chấp lại cầu nguyện Ơn Trên che chở, hoặc chỉ sử dụng vũ khí thô sơ để tự vệ, xả thân cứu đạo, cứu nhà. Với tỷ lệ 5% quá chênh lệch ấy, chúng ta có thể hình dung được kết quả.
 
Trời đang mờ sương, những bước chân người dồn dập mỗi lúc một đông. Tiếng reo hò mỗi lúc một gần, tiếng loa thét vang vang như muốn xé tan bầu không khí yên lành của buổi bình minh đẹp trời. Ánh lửa bập bùng thắp sáng vội vã bủa vây quanh làng. Mọi người Nghi Lộc chợt tỉnh dậy, nghe tiếng gươm đao chạm vào nhau.
 
Dù sao, tinh thần dân chúng vẫn được giữ vững, không ai bảo ai, đổ xô ra bờ làng chia nhau phòng thủ, ngăn ngáng (1).
 
Từ 3 giờ sáng đến 14 giờ chiều cùng ngày có 3 đợt đổ quân tăng viện cho Văn Thân. (2)
 
- Đợt đầu lúc 3 giờ sáng, trên 2.000 quân từ hướng Đông (Chợ Si) kéo binh lên có đầy đủ súng ống và đồ binh khí như: kiếm, siêu, đao, chuỳ, phủ, việt, kích, thương, bát xà mâu và thanh long đao. Súng, có súng hoả mai, nạp bắn từng phát một.
 
- Đợt nhì từ hướng Trung Hậu, làng Thân di chuyển tới, khoảng 200 tên với đầy đủ vũ khí.
 
- Đợt ba lúc 14 giờ từ hướng Tây (Đệ Nhất, Yên Nhân) kéo xuống, khoảng 300 người. Các thí đi ngựa hoặc võng, cáng, binh sĩ vũ khí sử dụng toàn gươm tất sáng giới.
 
Đó là chưa kể đến số thân hào nhân sĩ và dân chúng các làng lân cận như: Tú Mỹ, Hữu Lộc, Đông Phái tới tiếp ứng chặt như nêm.
 
Chu vi vòng đai làng Nghi Lộc lúc bấy giờ nhỏ xíu, hơn hai cây số, được rào cẩn thận bằng những cây tre gai và rào tre; không đủ kiên cố. Với từng ấy quân sĩ, tưởng có thể thanh toán mục tiêu một cách dễ dàng.
 
Những đợt xung phong được liên tục truyền ra, tiếng trống thúc và phèn la khua nhức óc. Từng làn sóng người nhấp nhô, xô đẩy nhau aò ạt tiếp áp vào bờ rào. Lực lượng bên trong cũng hùng dũng không kém. Không kể các anh thanh niên, các ông còn tráng kiện, các bà và các cô cũng đua sức tranh phong chập vò quăng vại để lấy miểng sành làm đạn cản ngăn quân nghịch. Do đó, đã cầm chân bước tiến của đối phương, không cho lọt được vào làng.
 
Quá nôn nóng và tức tối, một tên quản binh, bận áo giáp đồng, cậy sức khoẻ hơn người, vít ngọn tra già, nương theo đà nhảy vọt vào trong; không may cho nó, bị rơi xuống ao Sau, đang mùa nước sâu lút người; bị ông bà ta đổ xô xuống, dùng ván đè cho ngộp và đâm chết (có người nói xác y được chôn bên vườn ông Tám Vệ xóm Đông).
 
Trời quá mưa, tình hình càng trở nên căng thẳngvà sôi động. Người già và trẻ thơ đem nhau vào nhà thờ cầu nguyện. Văn Thân thì chúng dùng khiên mộc lăn áp vào chặt tre phá bờ, có nơi chúng dùng ván che đỡ đạn miểng sành. Bọn khác ôm rơm rạ đến chất phóng lửa đốt bờ. Đến giờ phút đó, quân ta vẫn xông xáo làm chủ tình hình, mặc dầu có một số người đã bị thương nặng.
 
Ba bề còn toàn vẹn, riêng mặt Nam, Văn Thân lợi dụng các nhà dân ngoại làng Hữu Lộc liền kề với một số nhà công giáo trong làng. Chúng nổi lửa đốt các nhà ấy, được đà gió, lứa cháy ngùn ngụt vào làng.
 
Vòng đai bị phá vỡ mặt này, Văn Thân ồ ạt tràn vào đến vài trăm tên. Núng thế, quân ta tạm rút về mặt Bắc; gặp nhau họ bàn kế và đồng lòng phản công, chẳng lẽ bó tay chịu chết. Uy dũng như những thần hổ, hàng mấy chục bóng người hé nhau xông vào lửa đạn, tả xông hữu đột quần thảo với kẻ hại mình.
 
Nhờ nắm phần chính nghĩa và sức chiến đấu dẻo dai, kiên cường, quân ta đã gây cho đối phương phải thương vong đến vài mươi tên, giáo mác, gươm đao quăng ra ngan ngác. Khiếp vía, Văn Thân hùa nhau chạy bạt mạng dẫm đạp cả lên nhau tìm đường thoát.
 
Thừathắng xông lên, ông bà ta chống cổng làng hướngTây Nam ùa ra ngoài. Văn Thân đang hoảng vía, tinh thần hết sức giao động.
 
Đúng lúc ấy (vào quãng 15 giờ), một sự lạ xảy ra. Trời đất chợt tối sầm, sa mù mênh mông, đến nỗi nhìn nhau còn không rõ mặt. Ông bà Nghi Lộc tin là có phép lạ cứu mình bèn đồng tâm lăn xả vào giáp chiến.
 
Văn thân đường lạ nhà nhà xa và quân sĩ mới tuyển mộ ô hợp tinh thần hăng say lúc ban đầu không còn nữa nên khi ta đồng lòng chống cổng ra ngoài tấn công, thì bọn họ quay đầu chạy nhốn nháo không còn nghe lệnh các quan nữa. Hầu hết họ đâm chém lẫn nhau mà chết. Số thương vong của văn Thân lên tới vài trăm người. Bên ta tổng kết cuộc chiến đấu tự vệ có hai chục bị thương và hai người tử trận.
 
Vừa thoát nỗi hiểm nghèo, làng ta cảm tạ chúa và đức mẹ rồi cấp tốc hội ý bàn kế hoạch đối phó, cuối cùng quyết định cho người già cả, đàn bà trẻ con những người bị thương cũng như trai tráng lánh nạn, vì nhà cửa đã ta nát hầu hết.
 
Thế rồi, một tiếng hô lên trong bóng tối, người ta chống cổng lên, mọi người già trẻ lớn bé dìu dắt nhau chạy qua cổng tiền ra bãi cát Hoàng Nương để rồi vòng ra ngoài làng Tú Mỹ chạy tới hạt Thuận Nghĩa (Quỳnh Lưu, Nghệ An)(3). Lúc đó còn một số người mắt lòa chân yếu, đàn bà yếu đuối có con thơ dại, những người yếu tinh thần họ còn ẩn trốn, không biết tới quyết định chạy nạn của dân làng, đành phải bỏ lại. Tổng cộng số người kể trên là 45 người.
 
Tưởng rồi cơn nguy biến cũng dần qua đi, không ngờ chỉ cách một ngày sau, vào hồi 4 giờ sáng chúa nhật 20 tháng giêng Giáp Tuất (8. 3. 1874) các cánh quân Văn Thân từ khắp phương kéo tới đông nghẹt, gấp mấy lần hôm trước. Vì không còn người kháng cự, chỉ trong khoảng khắc, chúng tràn vào như nước vỡ bờ làm cỏ toàn làng. Nhà cửa bị đốt cháy và phá tan thành bình địa. Ngôi thánh đường tranh làm mồi cho lửa căm hờn từ phút ban đầu. Cây cối tre pheo, chuối cam bị đốn hết. Tài sản bị dân ngoại thu nhặc không còn một thứ gì. Trân bò gà vịt đều bị chiếm đoạt. Ruộng đất bị tịch thu chia cho các làng lân cận trưng canh. Số phận của 45 người ở lại đều bị giết sạch, kẻ bị thiêu sinh người bị chém đầu. Của hết và người cũng chết (4) nhìn những làn khóitừ những cột nhà âm ỉ cháybay lên cao trong ánh chiều vàng úa, một nỗi thê lương làm xót xa lòng người. Hình ảnh nhuốm máu của chiều xưa trên đồi Golgotha cũng vậy.
 
Kẻ ở lại quê nhà đã thế, những người ra đi cũng chẳng may mắn gì hơn. tưởng khó có thể nêu lên hết được sự gian nan trên doạn đường thương khó mà ông bà ta phải chịu. Đoạn đường Nghi Lộc tới Thuận Nghĩa có là bao (đi băng đồng non 20 km) đã trở thành đoạn đường máu cho đoàn người lánh nạn.
 
Nạn bơ vơ. Trẻ thơ, già lẫn, bước thấp bước cao chập chùng trong đêm tối. Kẻ dắt con, người bế cháu, kẻ khác cõng cha già. Thảm thương cho những người bị thương tât và kẻ ốm đau, trong lúc sẩy đàn không ai dìu dắt. Khốn nỗi khắp nơi thấy bóng dáng người có đạo là chúng đuổi theo rượt bắt để cướp của lấy công lĩnh thưởng, hoặc để chém giết cho thỏa mãn lòng căm thù!
 
Ra khỏi làng, đã bị dân Tú Mỹ ngăn ngáng không cho đi phải lập kế hoạch đốt nhà họ mà thoát.
 
21 giờ hơn, lạc mất ba người, lý trưởng Yên Phú bắt được hai, lục soát lấy hết tiền bạc rồi chém. Một người trốn qua làng Chiêu Vật bị Lý Trưởng Bổng bắt gia hình.
 
Trới tối mờ mịt màn đêm lập lòe dăm ánh sao xanh, Ông bà chỉ còn nhìn sao mà nhắm chừng hướng đến. Đầu canh ba trở đi thì cơn đói hết chịu nổi, người lớn rũ liệt, trẻ em khóc không ra tiếng. Suốt ngày lo chiến đấu, phần khác lại nhằm ngày thứ Sáu ăn chay, nên từ sáng chưa ăn uống gì. Đã đói lại khát, mọi người đổ xô quen biết, một số người quen biết kiệt sức nghỉ chân, Tại đây tên Đồ Qúy phản trắc đã bắt nạp cho hương chức một ông già 90 tuổi (5) và hai đàn bà. Cả ba đều bị giết tại Quán Bánh Rang một cách thê thảm: Chúng chặt hai tay mỗi người rồi mới đi tìm nước bất kể đục trong dơ sạch.
 
Tới Cồn Cát, nghĩ tình chặt đầu. Xong chúng mổ bụng moi hết tim gan ruột ra cắt đứt thành từng đoạn rồi vứt thảy xuống sông.
 
Một người khác bị chém trọng thương đi theo làng tời thơm Gia Hộ cũng bị bắt lại và chúng giết không rõ nơi nào.
 
Hai giờ sáng tới thơn Đồi, Trang Cao chuẩn bị tuần Lâm, tuần Thưởng, lão Xang, Tri Dục, Trùm Hưng, tri Huyến vây bắt. Chúng bắt được chín thanh niên và ba phụ nữ, người thì bị chúng giết tại đó, người thị bị chúng đem về chợ Si đánh đập rồi chém.
 
Thoát khỏi thôn Đoài, lại gặp nạn thôn Đông, tú Tủi, tú Suất, đội Phong cùng với đinh phu, thủ hạ bủa vây bắt ông bà ta, đem về chợ Phan, trói hai hàng, đi đâm, lại chém cùng đánh đập tàn nhẫn. Bọn này ác độc hơn thú rừng. Đàn bà mang thai vẫn bị chúng trói phơi sương nắng suốt đêm và ngày hôm sau, chung với mọi người bị bặt.
 
Một em bé đang bập bẹ nói, bị chúng lấp gươm chém mặt nổ trong con ngươi (6). Có người bị chúng lấp giáo phóng vào sườn, kẻ khác bị chúng dùng đao chặt loạn càn bất kể nhằm đâu! Hai người bị giết tại chợ cầu Phan, còn tám người giải cho tổng Lý Trai (huyện Đông Thành, Nghệ An) tất cả đều bị chém tại chợ Cầu Bùng rồi vứt thây xuống sông! (trong số mười người chết có 4 tráng đinh và bảy phụ nữ).
 
Như đàn gà tan tác dưới sức tấn công của bay diều ó, những người sống sót lại tiếp tục lẫn trốn đi ra nơi dự định. Qua Yên Điều cũng bị gian nan một phen nữa, cũng đón, cũng ngăn thảm biết bao!
 
Trong lúc gian nan như vậy, ông bà ta cũng gặp được nhiều tấm lòng vàng, động lòng trắc ẩn trước cảnh máu chảy thịt rơi trước cảnh đói khát vật vờ. Tại Phú Vinh một người đàn bà lén lút cho ba mủng gạo sống, ông bà chia nhau bỏ vào miệng ăn và nhai sún cho con. Tại Bàu Yên cũng được một ngưới khác tử tế cho mấy chén cơm, cho nước uống và trong đêm tối dẫn cứu được ba người đem ra tới Thuận Nghĩa.
 
Tới gần sáng thì những người chạy nạn đã đến được bìa làng Thuận Nghĩa. Khi trời sáng tỏ người trong làng mới chống cổng đem vào, nấu cháo cho ăn vì đã bị đói liệt.
 
Tổng kết thiệt hại do Văn Thân gây nên cho làng ta trong biến cố này là 77 đấng bị chết vì Đức Tin (trong làng 47 vị và chết rải rác trên đường lánh nạn 30), toàn làng bị thiêu hủy bình địa.
 
Chúng ta có thể khóc lên như tiên tri Giêrêmia khi ngồi trên những đống gạch đá vụn của thánh đường Giêrusalem tan đổ.
 
Trên hai tháng nương nhờ xứ Thuận - Nghĩa được hai linh mục coi xứ và đồng bào giúp đỡ nuôi ăn. Nhất là cha Huệ (7) người thong xót và săn sóc nhiều bề:
 
“Tuy Quỳnh Lưu với Đông Yên
Trong lòng thương xót như chiên một nhà”
 
Trong những ngày lưu trú, ông cha ta cũng đoàn ngũ hóa với dân xứ để canh phòng ngày đêm và đi tiếp cứu các họ đạo lẻ mà giáo dân bị vây khốn trốn lạc trên rừng như: Đồng Lầy, Phúc Trạch, Kim Loan, Đông Cao v.v…
 
Cố quản Phạm Đường là người trung dũng và thông chữ, thời gian này đã sáng tác một bản “dân khổ hiếu” (8) trình Đức Giám Mục địa phận lúc đó là Đức Cha Ngô Gia Hậu (Gauthier) (9)
 
Chẳng bao lâu Đức Cha cho quân ở xã Đoài dẫn vào nhà chung ở. Năm sau tình hình tạm yên ổn dân làng ta trở về.
 
Bây giờ chúng ta có quyền tìm hiểu lại phong trào Văn Thân. Nguyên từ lúc Pháp chiếm ba tỉnh miền Nam và cử chỉ nhượng bộ của triều đình Việt Nam trước uy vũ thực dân Pháp một số lớn sĩ phu trong nước muốn có hoạt động gì khả dĩ ngăn chặn được sự tấn công của người Pháp lên Bắc và Trung Việt. Nhưng các ông đồ nho ta quá tiềm nhiễm Nho giáo và có óc thủ cựu quá đáng (10) kiến thức hẹp hòi (11) nhận định sai lạc nên đã ghét người ngoại quốc và quyết tiêu diệt tín đồ công giáo. Họ bảo kẻ thù ngoài là thực dân Pháp và kẻ thù trong là người có đạo. Sau chiêu tập bè đảng, sắm sửa vũ khí, họ lấy tên là “Văn Thân”; thì nhiệm vụ và mục tiêu trước mắt của họ là các làng Thiên Chúa giáo.
 
Ở Ninh Bình, Nam Định, Văn Thân đặt dưới quyền chỉ huy của quan thượng hồi hưu là Hoàng giáp Tam Đăng rất có uy thế, vì các quan lại và các ông tú tài, cử nhân đều là học trò của ông. Xứ Kẻ Trình và hàng trăm họ đạo khác ra tro trong các lần hành quân của họ.
 
Ở Nghệ An, hai ông, tú tài Trần Tấn và Đặng Như Mai hội tập các Văn Thân trong hạt làm một bài hịch “Bình Tây Sát Tả” rồi kéo nhau đi sát hại công giáo. Tổng đốc Nghệ An lúc bay giờ là Tôn Thất Triệu có ý dung túng cho Văn Thân, nên họ càng đắc thế làm dữ. Triều đình thấy vậy mới truyền bắt quan quân phải đánh dẹp cho yên, nhưng cũng chẳng ngăn chặn được là bao. Hai tỉnh ThanhHóa và Nghệ An bị thiệt hại nặng nhất, hàng chục ngàn người chết và 129 làng bị thiêu hủy.
 
Tình hình Việt Nam càng trở nên rối loạn, bế tắc.
 
- Năm 1882, Pháp viện lẽ triều đình ta bí mật liên lạc nhờ viện binh Tàu để đánh úp Pháp (12) nên đô đốc Le MyredeVilers sai đại tá HenriRivìere đem quân ra chiếm Hà Nội. Quá uất ức, tổng đốc Hoàng Diệu đã tự tử.
 
- Ngày 19-7-1883 Vua Tự Đức mất , hai quan đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chuyên quyền độc đoán.
 
Mặt khác cũng trong năm 1883, đô đốc Courbet bắn phá Thuận An và áp buộc triều đình ký hòa ước ngày 25-8 nhận quyền bảo hộ của Pháp, rồi đem quân ra bình phục Bắc Việt (13)
 
Bao nhiêu việc quan trọng liên tiếp xảy ra, tạo cơ hội thuận tiện cho việc bạo động của Văn Thân và nhân tâm thêm xáo động.
 
- Đêm 4 rạng 5 tháng 7 năm 1885 Tôn Thất Thuyế thất bại trong việc đánh úp Pháp tại đồn Mang Cá Huế, hôm sau đem vua Hàm Nghi trốn ra Quảng Trị, rồi sang Lào, vòng lên mạn Bắc và sau cùng về đóng miệt thượng du Hà Tĩnh. Mượn danh vua, ông Thuyết xuống chiếu “Cần Vương” hô hào sĩ phu toàn quốc đứng lên diệt xâm lăng và trừ diệt bọn giáo dân.
 
Lập tức các bực khoa bảng Trung phần vùng dậy hô hào chiêu tập nghĩa sĩ, rèn đúc khí giới rồi trương cờ, đánh trống đi giết “kẻ thù trong”. Lòng căm hờn oán ghét là động cơ xô đẩy họ làm những điều vôcùng dã man.
 
Suốt giải Trung Việt các cuộc đốt phá, tàn sát bùng bùng nổi dậy. Ở Hà Tĩnh có cậu ấm Lê Ninh (con quan nguyên bố chánh Lê Kiên) người La Sơn, Hà Tĩnh. Ở Nghệ An có ông nghè Nguyễn Xuân Ôn, và quan sơn phòng sứ Lê Doãn Nhã. Ở THanh Hóa có Hà Văn Mao v.v… Các ông này đều xướng lên việc Cần Vương, đem quân đi chiếm các tỉnh, thành, phủ, huyện và đốt phá các làng có đạo.
 
Những nơi nào có đông bổn đạo và có người chỉ huy biết phản kháng thì được thoát nạn, như làng Bảo Nham 12-11- 1886 v.v… đã chiến đấu gan dạ nên không thiệt hại bao nhiêu.
 
Riêng làng Nghi Lộc trong thời gian này không còn là mục tiêu quan trọng, vì mới bình địa những năm trước đây. Mặt khác vì sự quen biết và tài ngoại giao của ông Phạm Đường đối với quan Nghè Nguyễn Xuân Ôn nên làng đã thoát nạn. Được tin ông Nghè đóng quân ở Kẻ Si đường sá đò giang đều bị quân canh giữ ngăn ngáng. Ông quản Đường họp dân lại dặn dò kế hoạch chuẩn bị lánh nạn. Một mặt ông cho người gánh hai thúng nếp và một cặp vịt béo xuống hầu quan Nghè. Vừa trông thấy ông Quản, ông Nghè vỗ đùi đánh đét một cái, khoái chí cười ha hả rồi bảo:” Phạm Đường còn nhớ đến tao hả?” mời ngồi và nói chuyện về binh bị ông
 
Có khuyên ông Quản hưởng ứng phong trào. Sau đó lợi dụng lúc vui, ông Quản hiến kế là không nên ngăn ngáng và cấm sự di chuyển , làm như vậy khó rình bắt được những tên quan trọng khi họ đi dò la v.v… được ông Nghè đồng ý.
 
Trở về, ông Quản đem dân mình vào xã Đoài. Ki tới cầu cấm, thấy mấy người đang đánh loan nhau găng lắm. Đoán là bọn nào chận bắt kẻ có đạo đang chạy nạn đây, ông bà ta quát hỏi: “ai là Catholica” (14) rồi vung gươm chém mấy tên không biết trả lời, giải thoát cho anh em có đạo.
 
Khi vào đến xã Đoài, những người các xứ như Phú Linh Xuân Phong vào trước trình Đức Cha là ông Quản đã theo giặc ông Nghè, nên làng ta bị Đức Cha cấm lương ba ngày để điều tra. Sau khi trình bày tự sự, được Đức Cha tin và cho lập đội quân Đông Đào gồm 24 người, ông Phạm Đường được đặt chỉ huy với chức Hiệp Quản. Từ đó người ta gọi ông là Quản Đường.
 
Lúc bấy giờ các nơi khác trên toàn đất Việt đều biến thành biển lửa, một lò thiêu sát mênh mông chôn vùi người có đạo. Hai năm 1885 và 1886 là hai năm tang tóc nhất của giáo hội Công Giáo Việt Nam, đầu người rơi rụng như lá mùa thu và máu chảy nhuộm đỏ đất. Đâu đâu cũng thấy gươm đao vung lên để giáng xuống đầu kẻ có đạo. Con số nạn lên đến hàng trăm ngàn người. Vô số kể các làng công giáo bị bách hại, tưởng giờ hối của Hội Thánh việt Nam gần kề.
 
Nhưng rồi, Chúa Quan Phòng không để đến nỗi đạo Thánh bị tận diệt. Sau khi bắt chịu một phen khủng khiếp, kinh hoàng, Người đã ban cho một thời gian bình an lâu dài.
 
Từ lúc Đồng Khánh lên nối ngôi, tổ chức lại việc nội trị, sai quân đi đánh dẹp các nơi với sự phụ lực của quân đội Pháp. Và sau khi vua Hàm Nghi bị bắt gần suối Ba Lộc, Bình Chính, Hà Tĩnh (do lãnh tướng Trương Quang Ngọc phản), phong trào Văn hân nguội dần và rồi tan rã sau cái chết của quan đình nguyên Phan Đình Phùng năm Ất Vị 1895.
 
(1)  Đức Giám Mục Ngô Gia Hậu (Gauthier) nhận thế các quan triều đình không dùng phương pháp nào để năgn cản phong trào dấy loạn giết hại công giáo. Ngưòi liền ban phép cho công giáo được quyền dùng khí giới để bảo vệ mạng sống. Rồi ngài biên thư cho các quan: “Người công giáo đã cầm khí giới, không phải để chống chính quyền, nhưng để bảo vệ mạng sống của họ…” (Launay: “Histories générale des mission” III. 503).
 
(2)  Lãnh tụ Văn Thân ở Nghệ An lúc bấy giờ là ông tú tài Trần Tấn và Đặng Như Mai.
 
(3) Có người hỏi sao hồi đó ông bà không chạy ra xứ Phi Lộc cho gần? Hồi đó xứ Phi Lộc cũ là một họ đạo nhỏ, ít người hơn ta và ở bên kia sông (Văn Hiến kẻ sở)
 
(4)  Theo ông Nguyễn Miên cho biết ông bà chạy giặc về thấy nhiều nấm mồ chôn tập thể lối vườn ông Đồ Diệu
 
(5)  Ông trùm Diến lúc đó ngoài 90 tuổi. Ông quê Ngàn Sâu, người họ Mạc sau đổi là Phạm. Ông là nhà Thầy xuất, ra Nghi Lộc làm thuốc (lang y) và may vá. Lúc ra chỉ có cây kim bạc mà thôi. Ông là cha Ông Quản Đường – Trước Văn Thân, Đồ Qúy là dân Cồn Cát thường hay xuống làng Nghi nhờ ông Trùm hốt thuốc cho mỗi khi bệnh hoạn. Nay tinh thế đổi thay. Đồ Qúy cũng tahy lòng, đi tố cáo và nộp cho lý trưởng khi ông tá túc nhà y
 
(6) Theo ông Ðinh Huỳnh Lục thì em bé này tên Cát, tiếc là hồi ông 20 tuổi bà cố Liễu có kể hết tên các ông bà bị giặc chém tới từng nơi mất, nhưng không có để ý ghi chép, nên nay thì đã quên hết.
 
(7)   Linh mục Phêrô Huệ, sinh tại Thương Nậm, thụ phong Linh mục 1865, qua đời tại Thuận Nghĩa năm 1900. Theo “ kỉ yếu năm Thánh Giáo Phận Vinh”  ĐKT ct
 
(8) Xem phần đọc thêm
 
(9) Đức Cha Ngô Gia Hậu (Mgr Gauthier)  giám mục tiên khởi Địa phận Vinh. Sinh tại Montaigne Pháp ngày 15-11-1810. Nhập Hội Thừa sai Paris ngày 30-8-1835 dưới thời Minh Mạng. Đức Giáo hoàng Gregorio XVI chính thức thành lập Giáo phận  Vinh và ký sắc lệnh Ngài làm Giám mục ngày 17-3-1846. Tình hình Địa phận lúc bấy giờ có 76.397 giáo dân, 55 linh mục bản quốc, chia làm 21 xứ trong đó có xứ Đông Thành.
 
(10) Trần Kim Trọng chê rằng: ”Nước ta mà không chịu khai hóa ra như các nước khác được là cũng bởi bọn sĩ phu cứ giữ thói cũ, lại vì sự tức giận một lúc mà làm việc nông nỗi càn rở để cho thiệt hại thêm, như thế thì cái tội trạng của bọn sĩ phu đối với nước nhà chẳng to lắm ru! Việt Nam sử lược, trang 520.
 
(11) Nên đọc thêm: ”Những kiến thức của nhà Nho đương thời” qua "Hoán mê khúc” của Ngụy Khắc Đản đăng trong Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số Giáng sinh.
 
(12)  Triều đình có sai ông Phạm Thận Duật sang Thiên Tân cầu cứu.
 
(13)   Hiệp ước Harmand
 
(14)  Tiếng Latinh thường dùng chỉ dân Công giáo. Tiếng Pháp là Catholique
 

 


 

 
5. TÁI LẬP HÒA BÌNH
 
Chúng ta vừa đi qua những quảng đường thương khó của Tô Tiên qua các thời kỳ: Minh mạng, Tự Đức, Văn Thân, một cuốn phim đầy máu lửa và chết chóc. Tiền nhân ta đủ mọi lớp tuổi, mọi thành phần giai cấp anh dũng, hy sinh sương máu giữ vững Đức Tin mà Thiên Chúa đã ban cho trong ngày chịu phép rửa tội.
 
 
Chúng ta có quyền hãnh diện về những Đấng Tiền Nhân Anh Hùng của chúng ta. Đồng thời tin tưởng vào giá máu của các Đấng Tuẩn Đạo, sẽ là vinh quang và bảo chứng cho chúng ta và tương lai con cháu chúng ta.
 
 “Après la piuie, ij jait beau temps“- sau cơn mưa trời lại sáng, những bóng mây đen liên lỉ bao vay trên nền trời việt đã bay đi, nhường chỗ cho nền trời xanh quanh đãng. Những ngày dài đau thương của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam được cất nhẹ để huởng thời gian hạnh phúc khá lâu dài (1886-1945).
 
Anh Em Công Giáo làng Nghi Lộc, sau ngày chạy quân ông Nghè (1886), chỉ ít tháng sau đã trở lại cố hương vi tình hình đả trở nên yên ổn. Ông Bà đã bắt đầu xây dựng lại những gì đổ vỡ lâu nay.
 
Nhà cầm quyền hồi bấy giờ đã cho lập thêm một số đồn binh tại những nơi hiểm yếu để trấn giữ an ninh. Tại xứ Phi Lộc, họ cũng đặt một đồn canh do các lính tập đóng.
 
Các làng lân cận như Tú Mỹ, Hữu Lộc, Hạnh Lâm… đều trả lại những ruộng đất mà họ đã chiếm hữu ruộng đất trước đây; đồng thời cắt đất bồi hoàn thêm về sinh mạng, tài sản hư hại.
 
Với tinh thần hiếu hòa và khoan dung theo gương Thầy Chí Thánh, ông bà Nghi Lộc đã khéo cư xử để anh em ngoại giáo được yên tâm và không biểu lộ hành vi nào có ý trả thù. Do đó tình giao hoan lương giáo được củng cố ngày một thêm bền chặt.
 
 
Đình Quang (tư liệu)
 
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn