15:53 ICT Thứ năm, 29/06/2017

Các mục chính

      Linh mục quản xứ Nghi Lộc

       Giuse Nguyễn Văn Chính

 

Gx. Nghi Lộc online

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 72

Thành viên online : 1

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 68


Hôm nayHôm nay : 11106

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 416887

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 32452885

Trang nhất » Tin tức » Tin tức quê hương » Lịch sử quê hương

Lịch sử: B - Phần lịch sử (Trích từ cuốn "Quê hương yêu dấu")

Thứ sáu - 30/04/2010 23:17
Lịch sử: B - Phần lịch sử (Trích từ cuốn "Quê hương yêu dấu")
B. Lịch sử - I. Thời khai nguyên (1780) - 1. Hoàn cảnh lịch sử - 2. Các giòng họ tới lập nghiệp - 3. Biến cố "phân tháp" (1859) - 4. Thiêu sát năm Giáp Tuất (1874) - 5. Tái lập hoà bình.
 
 
 
1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
 
Phân chia lịch sử Việt Nam ra làm năm thời kỳ (theo cụ Trân Trọng Kim tác giả Việt Nam sử lược) chúng ta có:
 
1/ Thương Cổ Thời Đại: Từ họ Hồng Bàng 2875 trước Tây lịch đến hết đời nhà Triệu năm 111 trước Tây lịch.
 
2/ Bắc Thuộc Thời Đại từ vua Vũ Đế nhà Hán lấy đất Việt Nam cùa nhà Triệu đến đời Ngũ Quý, ở bên ta có họ Khúc, họ Ngô đứng lên đòi độc lập năm 931 sau Tây lịch.
 
3/ Tự Chủ Thời Đại từ nhà Ngô, nhà Đinh 939 cho đến sơ điệp nhà Hậu Lê năm 1527.
 
4/ Nam Bắc Phân Tranh Thời Đại từ nhà Mạc làm sự thoán đoạt năm 1528 cho đến hết thời Tây Sơn 1802.
 
5/ Cận Kinh Thời Đại kể từ vua Thế Tổ nhà Nguyễn năm 1802 đến hết cuộc bảo hộ của người Pháp năm 1945.
 
Theo sự phân chia trên thì làng Nghi Lộc ông cha đến khai sáng lập nghiệp vào thời đại thứ tư, Nam Bắc phân tranh. Trước khi Nam Lê, Bắc Mạc; sau Nam Nguyễn, Bắc Trịnh. Một thời nhiễu nhương, tao loạn với những cuộc chiến tranh lớn nhỏ triền miên. Một thời tranh bá đồ vương, bành trướng thế lực của các dòng họ lớn. Cảnh Nam Bắc tương tàn, nồi da nấu thịt của những người Việt cùng chung giống giòng đã kéo dài suốt 45 năm trời với bảy cuộc chiến tranh đẫm máu. Phần đất ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh thống thuộc trong phần đất họ Trịnh trong đàng ngoài, cũng là vùng chiến tuyến tương tranh nên đã chịu ảnh hưởng nặng nề của những năm binh lửa.
 
Về sau này tình trạng chiến tranh vẫn ít khi được dập tắt hẳn. Chúa Trịnh phải lo củng cố địa vị, âm mưu chiếm đoạt vương quyền nhà Lê, mặt khác lo tiễu trừ dư Đảng nhà Mạc ở Cao Bằng và những đảng phò Lê như Lê Duy Mật v. v…Cũng có những trận giặc khác nối tiếp nhau gây rối loạn như giặc Ngân Già, giặc Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất v. v… Tình trạng đen tối càng trở nên bi thảm.
 
Chính trị thời vua quan tham những thối nát, đê hèn, nhất là vào cuối đời họ Trịnh. Từ đời Trịnh Giang, Trịnh Doanh đến Trịnh Sâm, nhà Chúa chỉ biết chơi bời phóng đãng, bỏ bê việc triều chính giặc giã khắp nơi, mặc cho dân tình đói khác nghèo nàn. Kimh tế yếu kém, chính trị suy đồi, do đó chẳng bao lâu họ Trịnh đỗ và nhà Lê cũng mất.
 
Chính quyền về tay anh em nhà Tây Sơn, lúc đầu khí thế chiến đấu hăng say, nhưng lòng dân chưa thuận, cợn binh biến khốc liệt giữa ba phe vẫn kéo dài với ba danh nghĩa khác nhau. Để có đủ lực lượng, nhà Tây Sơn đã ban hành nhiều biện pháp gắt gao cưỡng bách dân chúng nhập ngũ. Đức Cha Gioan Larbatette ở Quảng Trị viết rằng: “…Có thể nói giáo hữu không có thời gian để thờ Chúa, vì tất cả mọi người bị vùi dập dưới nạn chiến tranh… Có lệnh động viên từ 15, 16, đến 60 tuổi. Việc đi lại, rất gay go. Ai không có thẻ sẽ bị bắt giam. Mỗi làng có ba trạm kiểm soát bộ hành. Nhờ đó, Tây Sơn có thể bắt được tất cả mọi người đúng tuổi nhập ngũ. Họ thả chó săn vào các lùm lòi để bắt người đi lính… Tại các làng vắng bóng đàn ông, chỉ còn đàn bà. Họ lấy các tượng Phật và chuông chùa để đúc đạn dựơc. Có 40 nhà thờ công giáo bị sung công để lính ở. Họ lấy áo lễ mặc xềnh xàng đi giữa đường cái, và lấy chén thánh làm ly uống nước, thật là quân vô đạo”.
 
Đến cuối năm 1788, được tin quân Trung Quốc sang Bắc, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22-12-1788) Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu Quang Trung, triệu tập các quan văn võ, lên đàn làm lễ tế trời đất, rồi kéo đại binh ra Bắc dẹp quân Thanh. Sau khi đại thắng, đầu năm 1789 vua Quang Trung giao xứ Bắc lại cho các thân thần rồi về Phú Xuân.
 
Vua Quang Trung ở Phú Xuân gần 6 năm (1786-1792) giai đoạn đó không phải là thời bình mà là thời chiến liên miên nên dân chúng đã chịu biết bao điều thống khổ. Đến năm cuối cùng thì mục đích tấn công Trung Quốc, vua còn phiền nhiễu dân chúng hết độ. Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí nói rằng: “Vua Quang Trung sau khi thụ phong có ý khinh thường Trung Quốc … Bởi đó vua càng cho rằng nhà Thanh dễ đánh, nên tính việc kéo quân, tíchlương, đóng tàu thật lớn có thể chở nổi voi. Cùng các quan văn võ bí mật bàn mưu đánh Trung Quốc. Vua bèn hạ lệnh các trấn phải dốc dân xã sửa lại sổ đinh, dùng tín bài lệnh, bắt dân khai sổ, sai người coi sóc xét hỏi. Tổng trưởng các huyện nhiều kẻ vì giấu diếm đều bị chém… Vua sai các viên phân quân đem binh đóng ở các xã để tra sổ đinh và bắt những kẻ đáng phải ra lính. Dân gian không chịu nổi kẻ phiền nhiễu, nhiều kẻ ẩn vào nơi rừng núi, khe suối để trốn”(1).
 
 
2. CÁC GIÒNG HỌ ĐẾN LẬP NGHIỆP
 
Ngoài lý do chiến tranh như ta đã thấy ở phần trên, căn cứ vào các lời lưu truyền và phả tộc của các giòng họ, chúng ta còn được biết vài lý do quan trọng khác đã đẩy đưa Oâng Cha chúng ta tới khai sáng, lập nghiệp ở phần đất làng Nghi Lộc.
 
1/ Lý do kinh tế: Chính trong thời tao loạn đã làm cho nền kinh tế nông nghiệp (1) vốn đã không trù phú dễ trở nên kiệt quệ. Chiến tranh đã làm cho nhà không người ở, ruông không người cày (2). Thêm vào đó thiên tai địa hoạ luôn giáng xuống phần đất miền Trung. Hằng năm có bão lụt, có lúc hạn hán đôi ba vụ mùa liền. Đồng khô cỏ cháy, bùn đất nứt nẻ. Cơm không có ăn, áo không có mặc, biết bao người vô tội chết oan uổng, vì đói rét, cơ hàn.
 
Lúc bấy giờ cha Gioan Labartette ở tại Thợ Đúc Huế, trong mấy lá thư viết vào năm 1775 và 1776, ngài kể rằng: “Tôi đã thấy xứ ở trong một tình trạng vô cùng đau khổ, do những trận giặc nổi lên từ vài năm nay. Phần đông đồng bào bỏ vườn hoang nhà trống, đem nhau chạy giặc … Nạn đói và chiến tranh đang làm cho nhân dân hết sức kinh khủng, dường như Thượng Đế trút hết mọi sự hờn giận của Ngài xuống cái xứ xấu số này, rất nhiều người chết đói, ai ai cũng đều rách rưới, ghẻ lở đầy người và còn đem nhiều bệnh tật khác tương tự. Người ta cho rằng có đến nửa phần nhân số trong xứ đã bỏ mạng. Đôi khi nhiều gia đình chết cả lúc vì họ uống thuốc độc mà chết vội cho khỏi phải chết đói lai rai… Một thúng lúa ngày thường giá bốn năm tiền, nhảy lên 10 quan, 70 quan. Nhiều họ đạo trước đây có ngàn mốt ngàn hai người, nay chỉ còn sống sót bảy tám mươi…”
 
2/ Lý do tôn giáo: Như người ta thường nói: “Không có Thánh giá, không có Triều thiên” (3) Như hạt giống phải thối đi trong lòng đất để tạo thành những ruộng lúa vàng. Như cuộc đàm áp tôn giáo 300 năm trường đã xảy ra vào thời kì đầu Công Nguyên do đế quốc La Mã nhằm tiêu diệt Giáo hội Rô Ma. Như gương Thầy Chí Thánh trên đoạn đường thương khó, phải chết tất tưởi trên thập giá để sống lại vinh quang. Lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng nằm trong định lệ ấy.
 
 “Từ ngày đạo Thiên Chúa chính thức bắt rễ do các Cha Dòng tên, cho đến cuối thế kỉ 19 (khoảng 1638-1886) lịch sử Giáo Hội Việt Nam là một cuộc tử nạn dài, gần như liên miên không mấy lúc ngừng hẳn. Có lúc ngừng tạm thời chỉ là để sửa soạn cho một giai đoạn dữ dội ráo riết hơn.
 
Cuộc tử đạo đó nhóm lên từ đời hai chúa Trịnh, Nguyễn. Buổi đầu còn hờ hững, qua đến đời Tây Sơn bắt đầu ráo riết, đến Minh Mạng dữ dội tới Tự Đức quyết liệt và tăng phần ác liệt cực độ dưới thời Văn Thân.
 
Đạo Thiên Chúa đã bị coi lầm là một tà đạo, có thể làm hại đến thuần phong mỹ tục trong nước. Còn những kẻ theo đạo thì bị người khác cho là đi ngược với luân thường đạo lý, e có thể đưa nước nhà đến sự nguy vong. Một ít việc bất ngờ xảy ra và một số người ghen ghét đố kị, hoặc cạnh tranh về vấn đề tôn giáo lại càng giúp cho mối ngờ vực tăng thêm (4)”.
 
Chúng ta cùng tìm hiểu trong hai thời: Chúa Trịnh và Tây Sơn đã xảy ra những cuộc bách hại tôn giáo như thế nào.
 
Đời Chúa Trịnh Cương 1717 vì quá nghe mẹ già sùng bụt, nên đã ra chỉ truyền các giáo hữu phải nộp các đồ thờ tự và hẹn trong một tháng phải làm tờ xuất giáo. Ai bất tuân phải thích bốn chữ: “Học Hoa Lang Đạo” trên trán. Người nào có công tố cáo hoặc truy bắt người có đạo đem nạp sẽ được thưởng 40 đỉnh bạc.
 
Năm 1721 Chúa lại xuống chỉ cấm đạo toàn quốc. Đời Chúa Trịnh Sâm việc bắt đạo lại được khơi động thêm. Nhiều nhà thờ bị triệt hạ, giáo hữu bị thích tự và phát án đồ, một số khác bị trảm quyết.
 
Đến đời Tây Sơn, Vua Cảnh Thịnh vì sẵn có ác cảm với người công giáo, nên lợi dụng lúc vua Thái Đức yêu cầu đem viện binh vào trợ chiến với quân của Nguyễn Aùnh từ Nam ra tấn công Qui Nhơn. Cảnh Thịnh đã đồng tình với Đổng lý xứ Bắc, lấy danh nghĩa Trung Ương Hoàng Đế ra chỉ cấm đạo.
 
Năm 1797 Nguyễn Ánh vây Qui Nhơn và sai một đội thuỷ quân ra đánh Phú Xuân. Cảnh Thịnh lo lắng, hơn nữa bắt được lá thư Nguyễn Ánh gửi cho Đức Cha Jean Labartette ở Phú Xuân, nên Cảnh Thịnh nghi, kẻ có đạo làm loạn, bèn mật lệnh cho các quan đến tháng 5 năm 1798 sẽ bắt gọn các bổn đạo và giết cho sạch. Giáo hữu hay tin nguy cấp liền đem nhau đi ẩn trốn.
 
Những cực hình các quan bày ra vào thời bấy giờ như: Lập sinh môn, những ai bước qua Thập Gía. Tử môn bị chém đầu. Có người phải đóng đinh vào ván phơi ngoài nắng mưa dãi dầm lâu ngày. Có người bị lí hình đổ dầu vào rốn mà đốt, kẻ khác bị buộc tóc treo xuôi, người bị buộc đầu ngón chân treo ngược, có người bị trói vào cột buộc vải thấm dầu vào ngón tay ngón chân, đốt làm nến năm ngọn! Có nơi họ bị trói vào cọc và người chung quanh chia lượt nhau cắt từng miếng thịt mà ăn, từ quan trấn đến đứa chăn ngựa.
 
Cuộc bách hại tuy ngắn nhưng đã mang tính cách dã man và lòng căm ghét ngoại quốc và người công giáo đã bắt đầu.
 
Với lý do chiến tranh, kinh tế và chính những thảm cảnh ghê rợn trên mà các ông bà đã đem nhau lánh nạn tại vùng đất Nghi Lộc. Sau này họ trở nên tổ tiên các giòng họ tại làng Nghi. Được biết có người cải trang làm người buôn bán với đôi gánh trên vai, kẻ khác có chút ít học thức đóng vai bán thuốc, lang y. Người giả dạng làm dân nghèo chạy loạn tìm kế sinh nhai, xin làm kẻ ăn người ở lẩn lút trong làng ngoại đạo.
 
Họ là nạn nhân của thời cuộc và các cuộc tàn sát vì tôn giáo. Họ là con cháu của những gia đình có đạo sẵn. Trong thời kì cấm cách, làng mạc nát tan, cửa nhà tiêu tán, sinh mạng bị đe doạ nặng nề, họ đem nhau chạy nạn và cùng gặp nhau tại vùng đất hoang vu, tre pheo lau lách đìu hiu, bên cạnh giải cát vàng vắng vẻ của làng Hữu Lộc. Chính cái xóm nhỏ này về sau đã biến thành làng Nghi Lộc tách rời làng mẹ năm xưa.
 
Để chứng minh cho hoàn cảnh, ông bà thường nhắc lại cho con cháu: “Trong 36 mục triện của tổng Lý Trai, chỉ có mục triện làng Nghi Lộc là có đảo”. Đủ cho ta thấy cái cô đơn của một họ đạo nhỏ nằm trong vùng dân ngoại mênh mông. Thế là hạt giống Đức Tin vẫn âm thầm nảy mầm vươn lên trong vùng trời bão lửa, để rồi không bao lâu họ lại gánh chịu những thử thách nặng nề đang chờ đón họ.
 
Cái khung cảnh ngày xưa kia làm tôi liên tưởng đến giếng Đình, một cái giếng cổ xưa nằm tại Giáp Nam ven ranh làng Hữu Lộc, nước trong lành mát mẻ, còn được dân làng sử dụng đến bây giờ, Giếng này cùng với thời gian đã chứng kiến bao cảnh buồn vui, sướng khổ, mà ông bà tổ tiên chúng ta đã sinh sống, nương tựa đùm bọc cho nhau.
 
Về niên đại chính thức tổ tiên các giòng họ đến lập nghiệp không có tộc phả nào ghi rõ mà chỉ ghi đại cương về quê quán và chi nhánh các giòng con cháu sinh ra. Căn cứ vào các đời kế truyền này, đồng thời qua sự tìm hiểu, phỏng vấn các bậc bô lão và các vi thức giả trong làng, cùng đem so sánh với hoàn cảnh lịch sử, chúng tôi tạm có dược nhân thức sau đây:
 
1/ -Thời Trịnh Nguyễn: Có sự xuất hiện của các họ:
 
- Đinh Bàng 
- Đinh Bạt 
- Nguyễn Duy và
- Vũ Duy.
 
2/ -Thời Tây Sơn: tăng thêm một số dòng họ khác:
- Phạm (Mạc) 
- Đinh Viết (Đinh Thế) 
- Trần Thế 
- Hàn Quang 
- Ngô Đức 
- Uý Kim.
 
3/ -Thời Lập Thôn: làng ta lại hân hạnh được đón tiếp một số ông bà các họ khác trong vùng, xin nhập cư tòng giáo, như:
- Lê Quang 
- Đinh Thái 
- Phạm Như 
- Ngô Hồng 
- Lương quang v. v…
 
Chúng tôi cũng muốn đề cập tới quê quán của một số họ tộc, hầu nói lên sự góp mặt phong phú của ông bà từ khắp nơi trong vùng trời Thanh, Nghệ, Tĩnh.
 
- Họ Đinh Bàng quê Xuân Aùn, Cửa Lò, Nghệ An.
- Họ Đinh Bạt gốc Hương Sơn, Hà Tĩnh.
- Họ Nguyễn Duy quê Xuân Đàm, Nguyệt Viên, Thanh Hoá 
- Họ Vũ Duy người Kẻ Sừng, Yên Thành, Nghệ An.
- Họ Phạm (Mạc) quán tại Thọ Hoàng, Ngàn Sâu, Hà Tĩnh.
- Họ Đinh Viết quê Rú Đất, Bảo Nham, Nghệ An.
- v.v…
 
Và còn một ít họ nhỏ khác, mong được đề cập trong những phần sau. Rất tiếc không thể ghi hết vào đây chi nhánh và giòng dõi cháu con của từng họ được, e quá dài dòng và trở thành cuốn phả tộc chăng (5).
 
Nét nổi bật của một trong những truyền thống tốt đẹp của dân làng là tinh thần hoà đồng hợp tác. Họ không phe phái, lấy nhiều thắng ít, không trọng cổ khinh tân, không ỷ giàu hiếp nghèo. Họ chỉ biết thương yêu đùm bọc nhau.
 
Lấy nhân nghĩa đạo đức để cư xử với nhau trong tinh thần tương thân tương ái. Những ai đem công tâm ra giúp dân làng đều được trọng nể, ghi ơn. Những người nào đầu óc hẹp hòi chia rẽ thì bị khi dể. Chính vì vậy mà mọi người đoàn kết tranh đấu trong mọi hoàn cảnh để cùng mưu sinh và cống hiến cho quê hương nhiều công trìng xây dựng.
 
Biết bao người mới nhập cư Nghi Lộc mà chẳng bao lâu trở thành lãnh tụ, hoặc trở nên người có uy tín trong làng. Chẳng hạn ông Quản Đường, hay như ông Đinh Chính được đi tu sau làm linh mục, thầy Nguyễn Văn Thân con ông Bính, v.v…
 
Câu chuyện ông Quản San bỏ làng Hữu Lộc đã đem cả gia đình sang nhập cư Nghi Lộc vì làng ấy không biết trọng chức quản quân của ông khi ông mãn lính, họ đã cắt cử ông trong công tác phu dịch. Sự việc xưa cũ này dù sao cũng là niềm hãnh diện của tiền nhân, nói lên phần nào tính cách tốt đẹp của quê hương ta.
 
(1) Đức Mẹ La Vang
 
(2) Nông vi bản
 
(3) No Cross, no Crown
 
(4) Máu tử đạo trên đạo trên đất Việt Nam của tác giả Trịnh Việt Hiền
 
(1) Trong khi làm công tác sưu tầm, chúng tôi hân hạnh được một số thân hữu cho xem các phả tộc họ mình mới tái lập. Phương pháp viết được canh tân và dễ nhận thức hơn. Bạn nào muốn thực hiện xin xem cuốn “Một lối chép gia phả thât đơn giản” của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ do NXB Sống xuất bản năm 1973
 
- Hoạ trung hữu phúc
 
- Tương dục phế chi, tất cố hưng chi
 
(Lão Tử đạo đức kinh).
 
 
3. BIẾN CỐ PHÂN SÁP
 
Trước khi đề cập đến các vấn đề này, chúng tôi xin dược thanh minh: Với lòng vô ưu, vô oán, chúng tôi chỉ muốn nêu lên những biến cố đã xảy ra trên mảnh đất quê hương nhỏ bé này mà không có ý tố cáo hành động của những người đã gây nên thảm cảnh. Mặt khác, chỉ muốn nêu lên lòng trung thành, tín nghĩa của tổ tiên, đã hy sinh xương máu bảo vệ chân lý, như là vinh quang, là bảo chứng, cũng là bài học cho thế hệ tương lai.
 
Ngoài ra tuân hành sắc chỉ của Đức Giáo hoàng Urbano VIII, khi thuật lại những việc xảy ra có tính cách phép lạ những danh từ anh hùng tuấn đạo, các thánh tử đạo v. v…chúng tôi chỉ dùng danh từ theo nghĩa thông thường mà không có ý đi trước hoặc vượt thẩm quyền phán quyết của Toà Thánh.
 
----------------
 
Biến cố xảy ra dưới triều Tự Đức (1). Tuy nhiên để có một cái nhìn liên tục, chúng tôi xin được tóm lược các giai đoạn dưới đây:
 
- Đời Gia Long: Suốt 18 năm trị vì (1802-1820) vì nhớ ơn Đức cha Bá Đa Lộc (Jean Pingeau de Béhaine) đã giúp khôi phục được giang sơn, nên vẫn giữ thiện cảm với công giáo và cho giáo dân được tự do giữ đạo.
 
Năm 1820 Minh Mạng lên kế vị cha, mở đầu một giai đoạn đẫm máu. Vua mạt sát giáo hữu là mọi rợ, không thờ kính tổ tiên. Đặt điều cho giáo sĩ là quyền rũ đàn bà và khoét mắt người ốm! Các đạo đường đạo quán phải triệt hạ. Năm 1839 vua ra chỉ thị buộc mỗi làng, xã phải xây dựng chùa, miếu. Tới ngày tế tự, mọi người phải đến vái lạy, niệm hương trước Thần, Phật.
 
Thời gian này chắc là ông bà Nghi Lộc chúng tôi cũng chịu nhiều gian nan khốn khó và lương tâm khó bình yên, vì tham gia việc thờ tự coi như chối bỏ đạo, nếu ngược lại sẽ bị bắt, bị giết. Nhưng không có bút tích nào để lại việc ông bà chịu khốn khó trong thời này, nên không dám quyết đoán rõ ràng.
 
Năm 1841, trong lúc đang hăng say với việc chém giết giáo dân, nhà vua bị té ngựa chết, đem theo vào nấm mồ mối hận chưa diệt xong đạo Thiên Chúa.
 
Tháng Giêng năm Tân Sửu (1841) Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Thì, huý là Miên Tông lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Thiệu Trị, ông này tính thuần hoá nên lơ là việc cấm đạo và giáo dân được tạm yên trong bảy năm.
 
Năm 1847, Tự Đức lên làm vua. Năm đầu để tỏ lượng bao dung, nhà vua đại xá tội phạm. Do đó, những người Công giáo bị giam, bị đồ hay bị lưu đày đều được tha, trở về nguyên quán.
 
Nhưng qua năm sau 1848 Tự Đức nguyên niên, các dụ cấm đạo nối tiếp nhau ra đời.
 
1851 hạ lệnh buông sông các nhà truyền giáo ngoại quốc, các giáo sĩ Việt Nam phải chặt đôi bên sông.
 
1853 để công việc chóng kết quả mĩ mãn, nhà vua trưng cầu ý kiến các quan trong toàn quốc về kế hoạch bắt đạo. Biết bao phương thế ác hại được tâu trình; biết bao hình phạt khổ nhục dã man được dâng hiến – Theo ông bà xưa cho biết ông Lang Cường (quan ngự y) người Đông Phái (2) cùng lòng ghét đạo, dịp này cũng tâu trình vua một bản hài tội.
 
18-9-1855 Tự Đức công bố kết quả trưng cầu ý kiến bằng một dụ cấm đạo quyết liệt khắp nơi. Như những đòn sét đánh khủng khiếp anh em công giáo chỉ biết cầu nguyện và đem xương trắng máu đào bảo chứng cho niềm tin.
 
1857 cuộc thương thuyết Việt Pháp bế tắc. Tự Đức quay về bách hại giáo dân quyết liệt hơn nữa.
 
31-8-1858 tức tháng 7 năm Mậu Ngọ (Tự Đức thứ 11), chính phủ Pháp và Tây Ban Nha lấy cớ chính phủ Việt Nam đã sát hại các nhà truyền giáo của họ, nên đã công phần dùng binh lực trả thù. Sai Hải quân Trung tướng Gigault de Genouilly đem 14 chiếc tàu và 3. 000 quân bỏ neo trước Cửa Đà Nẵng, và hôm sau đổ quân chiếm cửa bể. Tháng 2-1859 kéo vào chiếm đóng Sài Gòn.
 
Sự kiện trên ảnh hưởng rất lớn tới việc bắt đạo. Trong năm 1859 vua Tự Đức Phẫn nộ ra liên tiếp 4 chiếu chỉ 4 chương trình hành động.
 
Chiếu chỉ I: Truyền bắt các đầu mục đem giam tại các tỉnh lỵ, người nào bất khẳng phài phát lưu.
 
Chiếu chỉ II: Các quan, lính có đạo dù quá khoá vẫn phải cách chức đuổi về. Nếu không bỏ đạo sẽ bị xử giảo, giam hậu hoặc phát lưu (tuỳ phẩm trật).
 
Chiếu chỉ III: Truyền làm sổ giáo dân, từ 16 tuổi trở lên, bắt xuất giáo và giao cho lương dân quản thúc. Thỉnh thoảng bắt tập trung lại bắt quá khoá.
 
Chiếu chỉ IV: Các chị dòng Mến Thánh Giá bắt phân vào các làng, hay đày đi xa hoặc bắt làm gia nô trong các nhà quan.
 
Mọi nơi hưởng ứng tiếng gọi nhà vua, thi hành mệnh lệnh riệt để. Từ thành thị tới thôn quê, nơi cổng ra vào, ngả ba, ngả tư đều đặt Thánh giá, cắt lính canh; buộc ai qua laị phải đạp ảnh. Người nào cưỡng lệnh liền bị bắt, tống giam hay phát lưu ngay (3).
 
Tại làng Nghi Lộc, trong những năm này, ông ba cũng bị các quan địa phương làm khốn khó, bắt giam trong các ngục thất trong vùng, bên cạnh các làng ngoại đạo. Đến nay nhiều thửa ruộng còn lưu danh mà mọi người trong làng đều biết đến như đám ngục bà Chế Tân, gần đây đa còm làng Trung Hậu(4), đám ngục phía đông ao ông Hàn Quảng chợ Chùa cũ (5) v. v…theo bưu thiếp từ Bắc gởi vào Nam của ông Đinh Thế Can (nguyên câu – đương xứ từ 1939-1944) gởi cho con là ĐINH THẾ KHIÊM đề ngày 26-6-1959, cũng nhắc nhở con cháu “nhớ ngày kỉ niệm 100 năm ông bà chịu khốn khó vì đạo lành”. Cũng trong năm 1859 này Đức Cha Hậu (Gauthier) và các vị Thừa sai phải rời địa phận tạm lánh ra hải ngoại.
 
Tới cuối năm 1860, Tự Đức hạ một sắc dụ quyết liệt nhất có ý phân tán các người Công giáo khắp trong nước, đây là phương pháp cuối cùng. Lúc đầu vua còn do dự chưa muốn ban hành vì sợ sẽ sinh ra nhiều rối loạn trong nước, nhưng sau rồi ông ta cũng quyết định cho thi hành.
 
Sắc cụ khá dài, có nhiều đoạn lời lẽ thô tục, bẩn thỉu. Tự Đức nêu ra mạt sát công giáo, xin bỏ ra ngoài, sau đây là những khoản chính:
 
1. Tất cả mọi người công giáo bất luận đàn ông, đàn bà, già trẻ, giàu nghèo đều phải tản mát sang các làng bên lương.
 
2. Các làng bên lương đều có trách nhiệm canh giữ những người công giáo, cứ 5 người lương giữ một người giáo.
 
3. Các làng có đạo đều phải phá huỷ, vườn tược nhà cửa sẽ chia cho các làng lân cận, những làng này phải chịu thuế về đất vườn mình lãnh.
 
4. Chia rẽ đàn ông công giáo ra khỏi đàn bà công giáo. Đàn ông sẽ gửi đi một tỉnh và đàn bà tỉnh khác, để chúng khòi còn có thể sum họp, con gái sẽ giao cho các gia đình lương nuôi nấng.
 
5. Bất luận đàn ông, đàn bà, trẻ con đều phải thích tự vào má: Má tả hai chữ “Tả đạo”, má hữu thích tên phủ huyện, hầu chúng khỏi trốn tránh dược.
 
Dụ vừa ban ra, mọi người có đạo rụng rời tay chân, đâu đấy vang lên những lời than vãn vô cùng bi đát.
 
Vua quan trong cả nước đồng lòng làm khốn người công giáo trăm phương ngàn cách không sao kể xiết.
 
Đang khi mọi nơi, cửa nhà có đạo phải thiêu đốt ngùn ngụt, thì ở phủ huyện, tỉnh lỵ hay các nơi lưu đồ, các quan truyền làm hàng trăm nhà tù, nhà giam. Trong khi người bên lương hí hửng hưởng gia tài điền sản kẻ có đạo, thì người công giáo từng đoàn lũ đem nhau lên rừng, hay chui rút xuống thuyền, hoặc bị điệu vào tù đóng gông cùm, xiềng xích, hay bị đày lên chấn rừng xanh núi đỏ sống cuộc đời khổ sai. Đếm làm sao xuể những kẻ phải chết trong cơn cấm đạo này (6).
 
Theo ông bà xưa thuật lại, anh em công giáo Nghi Lộc bị bắt giam trong các ràn, cuỗng (như chuồng trâu bò, ngoài đồng) tại nhiều nơi như Kẻ Chuyên, Kẻ Rộc. Một lần khác bị bắt ra làng Mai Các, họ nhốt trong một cuỗng gần vịch bờ làng, chung quanh có đào hào sâu, và rào kín mít. Họ còn cắm thêm chông để không ai thoát ra ngoài được. Muốn vô, chúng bắc cầu ván, và khi ra họ rút tấm ván ấy đi. Hai đầu cuỗng chất hai cây rơm cao và mỗi cây để sẵn bốn chum đầu, chuẩn bị cho cuộc thiêu sinh tập thể! Bên ngoài, có chia quân canh gác ngày đêm. Những người có đạo chịu cảnh đói khác, đội mưa nắng ban ngày, chịu sương gió ban đêm. Trẻ em và người già cả bệnh tật ốm đau la liệt không thang thuốc. Vì thiếu điều kiện vệ sinh, phóng uế bừa bãi mùi xú uế ngày một gia tăng nồng nặc thối tha chịu hết nổi. Bệnh tật hoành hành cũng với sự cố ý lãng quên của người ngoại giáo suốt ba tháng trường mưa sa nắng táp, nhiều người đã ngã gục. Cũng may, được ông Lý chới, Lý Trưởng làng Mai Các có sẵn từ tâm, về sau này ông cũng làm lơ không bắt canh gác nhiệm nhặt lắm, nên đã cứu sống được nhiều người bằng cách vài ba tuần lễ ông cho phép các bà lẻ tẻ lẩn trốn về tìm của ăn mang tiếp tế cho gia đình, như bà cố Thập họ Phạm chẳng hạn.
 
Trong những ngày tháng cuối, ông bà phải chịu thích tự “Đông Thành” bên má phải, và hai chữ “Tả Đạo” ở má trái và phân sáp khắp nơi mỗi người một phương, những năm thanh bình trở về làng xưa, các cố vẫn hiên ngang và lấy làm hãng diện với bốn chữ thích trên mặt, như ông bà cố Nicolao ĐINH VIẾT PHẨM, cố ĐINH BẠT CHÍNH, cố Trùm NGUYỄN LONG, bà VŨ THỊ HẠP, v. v… Họ thường nhắc nhở cháu con.
 
- “Ơn vua bốn chữ đời không có 
Kính Chúa trăm năm đạo vẫn còn. ”
 
Hoặc:
 
- “Tử sinh cam thụ một bề.
Dốc lòng thờ Chúa chẳng hề đơn sai.”
 
Để có thể hình dung trong muôn một những khổ đau do lệnh phân sáp gây nên. Chúng tôi xin được giới thiệu bài “Phú Phân Tháp” dưới đây, do một vị túc nho sáng tác hồi bấy giờ. Ngoài phần giá trị lịch sử chắc còn đóng góp vào nền văn học sử công giáo (7).
 
Thế rồi ngày 5-6-1862 (Nhâm Tuất) vua Tự Đức bại trận sai ông Phan Thanh Giản và ông Lâm Duy Tiếp ký hoà ước cùng sứ thần Pháp là Thiếu tướng Bonard, tờ hoà ước gồm 12 điểm, song đại lược là Việt Nam phải nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và phải để dân chúng tự do tín ngưỡng (8).
 
Hoà bình tôn giáo trở lại, bao nhiêu nạn nhân bị phân sáp, giam cầm hay bị lưu đầy đều được tha về và được phục hồi lại điền thổ đã mất. Trên dấu vết hoang tàn cũ, lại mọc lên các nhà thờ công giáo, các nhà thờ to lớn hơn, như niềm vui đang phấn khởi trong lòng. Đức Tin là cột lửa sáng soi và dẫn đưa anh em chúng tôi trong cuộc đời chiến đấu gian nan này.
 
(1) Vua Hiến Tổ mất, truyền ngôi cho hoàng tử thứ hai là Hồng. Nhậm 19 tuổi. Tháng Mười Đinh Vị 1847 lên ngôi tại điện Thái Hoà, lấy hiệu là Tự Đức, làm vua được 36 năm, mất ngày 18 tháng 6 Quí Mùi 1883, thọ 55 tuổi, miếu hiệu là Dực Tông Anh Hoàng đế.
 
(2) Làng Đông Phái cách Nghi Lộc 200m về hướng Đông.
 
(3) Trịnh Việt Hiền: MÁU TỬ ĐẠO TRÊN ĐẤT VIỆT NAM
 
(4) Cách làng Nghi non 2 cây số về hướng Đông Nam
 
(5) Cách làng Nghi 100m về hướng Đông
 
(6) Trịnh Việt Hiền sdd trang 35
 
(7) Xem phần đọc thêm.
 
(8) Hiệp ước được kí kết, triều đình thuận cjo các thừa sai được trở về xây dựng lại địa phận.
 
 
Đình Quang
 
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn