21:33 ICT Thứ năm, 30/03/2017

Các mục chính

      Linh mục quản xứ Nghi Lộc

       Giuse Nguyễn Văn Chính

 

Gx. Nghi Lộc online

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 67

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 64


Hôm nayHôm nay : 11647

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 352599

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 31216209

Trang nhất » Tin tức » Tin tức quê hương » Lịch sử quê hương

Lịch Sử- A - Phần đại cương (Trích từ cuốn "Quê hương yêu dấu")

Thứ bảy - 24/04/2010 06:55
Lịch Sử- A - Phần đại cương (Trích từ cuốn "Quê hương yêu dấu")
A - Phần đại cương.
 
 
 
 
 
 
I. DANH HIỆU
 
Thông lệ của loài người trên mặt đất là thích đặt cho mỗi loài, mỗi vật, mỗi địa phương một cái tên. Nó là ước hiệu cần thiết để phân biệt sự vật này không phải là sự vật kia, cái này không phải là cái nọ. Làng từ ngày phân triện (1887) chính thức là một thôn riêng biệt, tổ tiên đã khéo chọn cho làng một danh xưng tốt đẹp, mang nhiều ý nghĩa truyền thống Á Đông: NGHI LỘC. Theo ông cha lưu truyền và các vị thức giả cho biết thì hai tiếng Nghi Lộc trên xuất phát từ các câu danh nho:
 
1. "Khánh vô bất Nghi (Vui vì việc nào cũng nên) 
 Thọ thiên bách Lộc(Hưởng nhiều ân huệ của trời).
 
 2. “Nghi thất, nghi gia, nghi huynh đệ
 Lộc thiên, lộc địa, lộc quân vương”
(Nhờ phúc lộc của trời đất và quân vương mà nên nhà nên cửa, nên anh em) 
 
Mặc dầu qua biến thiên của lịch sử, danh hiệu NGHI LỘC vẫn được dùng và duy trì cho tới ngày nay. Tuy nhiên một điều cần lưu ý là người miền Bắc và miền Trung có thói quen giản lược tên gọi, do đó làng Nghi Lộc dân chúng thường gọi tắt là làng Nghi (1).
 
(1) VD: Tỉnh Thanh Hoá thường gọi là tỉnh Thanh. Phủ Diễn Châu gọi là Phủ Diễn. Làng Phượng Lịch gọi là làng Phượng...
 
Trước đây, hồi còn chung thôn với làng Hữu Lộc, dầu tên Nghi Lộc đã có nhưng vì chưa phân triện nên chưa được quyền có một tên riêng hợp pháp. Trong khoảng thời gian đó, mỗi lần có biến cố như Phân Sáp (1859) và Văn Thân (1874) dân chúng Nghi Lộc chạy loạn thường được chung đường Xã Đoài (1) gọi là dân Đông Đào. Có lẽ tên này được phép bởi hai chữ đầu của huyện Đông Thành và xã Đào Viên.
 
(1) Xã Đoài là nơi đặt Tòa Giám mục của Địa phận Vinh, cách thị xã Vinh 13 cây số về hướng Nam.
 
 
II- VỊ TRÍ 
 
- Bắc giáp làng Tú Mỹ.
- Nam giáp làng Hữu Lộc.
- Đông giáp Đền Xã Đào Viên (Chợ Chùa)
- Tây giáp bãi cát Hoàng Nương.
 
Dưới triều Nguyễn thì làng Nghi Lộc thuộc xã Đào Viên, tổng Lý Trai, huyện Đông Thành (1), tỉnh Nghệ An. Từ thời Việt Minh (8-1945) trở về sau, Nghi lộc thuộc xã Diễn Hạnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Bắc Trung phần Việt Nam.
 
Là một làng quê hiền hoà, tháng ngày ẩn mình sau luỹ tre xanh, liên cư với các làng mạc đông đảo của cánh đồng miền Trung – Châu Bắc Trung Việt. Đêm đêm nghe tiếng vọng trùng dương, ngày ngày thở khí thiêng sông núi. Dựa vào bản đồ Việt Nam, có nhiều cách đi đến địa điểm của làng:
 
a) Theo đường xuyên Việt Bắc Nam, đến phủ lỵ Diễn Châu, nhìn về hướng Tây sẽ thấy một bóng tháp trắng của ngôi Thánh đường làng ẩn hiện sau rặng cây xa.
 
b) Nhìn vào cung lõm biển Thái Bình, đáy cung là phủ lỵ Diễn Châu, đi theo hướng gió biển thổi vào đất liền, ta có thể tới Nghi Lộc sau 10 phút đường xe (1).
 
c) Làng nằm vào khoảng giữa ô vuông, được tạo thành bởi các trục lộ giao thông huyết mạch. Phía Đông là quốc lộ 1 chạy suốt Bắc Nam. Phía Bắc và Tây là quốc lộ 6 chạy từ Cầu Bùng tới Yên Thành và rồi bẻ góc để gối đầu lên quốc lộ 7 từ ngã ba Phủ Diễn đi Đô Lương, Lào. Cả hai con đường này đều gối đầu vào quốc lộ 1.
 
Những chiều thanh bình xưa cũ tại quê hương, trên cánh đồng làng phía Đông, những chuyến tàu suốt xuyên Việt vun vút lao mình trong nắng ấm, nhả những làn khói đen dài thướt tha như muốn gởi lại một chút nhớ nhung lưu luyến cho đám mục đồng và đàn trâu ngơ ngác nhìn nhau.
 
(1) Huyện Đông Thành nơi có nhiều di tích lịch sử như Đền thờ An Dương Vương (và câu chuyện nỏ thần) tại núi Mộ Dạ, còn gọi là đền Công hay đền Cuông, vì tại núi này có lắm chim công, cách làng nghi 15 cây số về hướng Đông Nam. Về cuối triều Nguyễn, huyện Đông Thành đổi thành Phủ Diễn Châu.
 
(2) Nghi Lộc cách phủ Diễn Châu 5km về hướng Tây và cách thị xã Vinh 40km về hướng Tây Bắc
 
 
III. DIỆN TÍCH
  
Khi ông cha mới tới đây lập nghiệp thì vùng đất Nghi Lộc ngày nay là một giải đất hoang vu, treo pheo lau lách và cỏ cây mọc um tùm như những cánh rừng chồi Việt Nam. Khoảng đất này nằm theo chiều dài Nam Bắc, bên cạnh bãi cát vàng Hoàng Nương (1), trấn lĩnh hai đầu của bãi cát này là hai ngôi đền cổ của làng Tú Mỹ hướng Bắc và đền Trang Cảnh của làng Hạnh Lâm hướng Nam.
 
Thời bấy giờ, tổ tiên sống rất khiêm nhượng với sự vô sản của mình. Đa số ruộng đất đều sang nhượng lại của bà con làng Hữu, hoặc khẩn phát đất hoang làm nơi cư ngụ, Dần dà, với năm tháng, sinh sôi nẩy nở ra nhiều và hoàn cảnh lịch sử đẩy đưa, một số người các nơi gom đến, dân làng đông thêm, khoảng được 50 gia đình quy tụ thành một xóm và chung thôn với làng Hữu Lộc. Những năm gian nan vì lý do tôn giáo thời Tự Đức, Văn Thân, kể như tài sản ruộng đất của Nghi Lộc đều bị phân tán cho các địa phương khác.
 
Lúc bình yên, những người sống sót trở lại cố hương được các làng lân cận bồi hoàn, đồng thời cắt nhượng thêm thổ cư và đất canh tác để bồi mạng và tài sản bị tiêu hao. Chẳng hạn đất xóm Thượng ở hiện nay, trước là xứ Tiểu Khởi của làng Tú Mỹ bồi. Một phần đất xóm Đông và Cao Vương Xứ là do làng Hữu Lộc bồi. Riêng làng Đông Hạnh nhượng xứ Bụi Bụi, mà làng ta đã nhường lại cho xứ mẹ Phi Lộc lập đồn canh, xây nhà thờ và cho đồng bào ở hiện nay v. v…Do đó, diện tích làng đã được nới rộng cà mặt Đông Tây và Bắc. Tổng cộng gần 100 mẫu đất ở và gần 200 mẫu đất canh tác (1 mẫu = 3600m vuông). (Theo Feuille của Sở Địa Chánh trước 1945, địa phận làng Nghi chịu thuế là 117 mẫu, 63 mẫu ở, 54 mẫu ruộng rộc. Trong đó không kể đến thổ cư xóm Đông chịu thuế cho làng Hữu Lộc và đa số diện tích ruộng vườn tư nhân mua của dân các địa phương khác để canh tác, như tại Đất Bông, Cồn Cò, Bốn Hủng, Cầu Mây, Đồng Chợ, Đông Chùa v. v... Nên biết là trong địa phận Nghi Lộc cũng có đất của tư nhân người các địa phương khác).
 
(1) Hoàng Nương: Giải cát dài có trên 3km, chiếm liên cư liên xã, có cỏ mọc xanh xanh làm nơi cho các mục đồng thả trâu bò và là nơi thiết lập những sân đá banh tha hồ rong rãi tranh đua, cũng có thể sử dụng những địa điểm tốt cho các cuộc lễ lạc có đông đảo dân chúng tham dự. 
 
 
IV. ĐỊA THẾ 
 
Toạ lạc trên cánh đồng lúa mênh mông của miền Trung Châu Bắc Trung Việt. Cánh đồng này được giới hạn bởi biển Thái Bình mặt Đông và được chấm dứt bởi dãy Trường Sơn mặt Tây. Rải rác gần chân các dãy núi trùng điệp là những lèn đá xanh nhấp nhô hiểm hóc. Sự cấu tạo đất đai của miền này có hai phần: Miền cận sơn nhiều đất sét nên lầy lội và trơn trượt vào những tháng mưa. Miền cận thuỷ ảnh hưởng cát biển Đông bồi, nên khô ráo và nóng bỏng vào mùa hạ.
 
Làng Nghi Lộc được may mắn ở vào quãng trung bình, cách biển không bao xa, nên đất đai vào loại đất sét pha cát, thuận tiện cho việc canh tác trồng trọt và vùng thổ cư được cao ráo, sạch sẽ, dễ thoát nước.
 
Hình thể làng là hai hình chữ nhật, một lớn một nhỏ, nằm song song theo chiều Nam Bắc. Cách nhau bởi một cánh đồng sâu mà người ta thường gọi là rộc, rộng khoảng 100m. Hai khu vực trên, khu lớn được gọi là làng, gồm ba xóm: Nam, Trung, Thượng; khu nhò chỉ một mình xóm Đông.
 
Như vậy làng có bốn xóm: có xóm Nam mà không có xóm Bắc có xóm Thượng mà không có xóm Hạ, có xóm Đông mà không có xóm Đoài.
 
Chung quanh làng là những cánh rộc sâu, ở đó người ta đã đào nhiều ao hồ để nuôi cá gọi là đìa và đào hào đắp luỹ trồng tre, làm thành một vòng đai kiên cố xanh tươi. Nhờ ảnh hưởng những thửa ruộng sâu và ao hồ bốn mùa trử nước mà khí hậu trong làng được điều hoa, ụ mát mẻ.   
 
 
V. CHỦNG LOẠI VÀ GỐC TÍCH
 
Không dám sánh với Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, nhưng dân Nghi Lộc cũng là một tập hợp quần chúng từ các phương xa của vùng trời Thanh Nghệ Tĩnh về hợp thành. Họ mang tên nhiều dòng họ khác nhau, như: Đinh, Nguyễn, Vũ, Lê, Trần, Mạc, Phạm, Hàn, Uý (1), Ngô, Lương v. v… Do nhiều hoàn cảnh và thời gian khác nhau, họ đã tìm đến giải đất Nghi Lộc sinh sống, lập nghiệp non 20 năm trời nay. Những ông tổ đã chấp nhận nơi này làm quê hương yêu dấu của đời mình và cùng bắt tay nhau xây dựng cho ngày một thêm trù phú. Sự tồn tại và hưng thịnh mảnh đất nhỏ bé này, khi trao gởi lại cho con cháu như một di sản thiêng liêng, ông cha đã tốn biết bao xương máu, hy sinh mồ hôi nước nắt, gông cùm xiềng xích, đói khổ, ngục tù, chết chóc v. v… Khi đào bới lớp bụi thời gian để xoá mờ dĩ vãng để tìm lại vết tích người xưa, chúng ta không khỏi đem long ngưỡng mộ kính phục mến yêu các người đã dày công cho mảnh đất quê hương đó.
 
Căn cứ vào các lời lưu truyền, gia phả, hình ảnh và những lần di cốt cácTộc Trưởng (1950) tại quê nhà cho biết các dòng họ thuộc làng Nghi Lộc đều là người Việt thuần tuý. Dáng vóc tầm thước trung bình, cao khoảng 1m60, đi đứng nhanh nhẹn, sức làm việc dẻo dai, da vàng hơi sẫm, tóc đen thẳng mướt, sọ ngắn, mắt và mũi trung bình, sống mũi thẳng, môi trung bình, không dày như Phi Châu và mỏng như dân da trắng, họ có dáng người Trung Hoa, Nhật hoặc Đại Hàn.
 
Đặc tính tâm lý: Thông minh, lắm mưu mẹo, siêng năng, hiếu học, nhẫn nại, một số ít có khiếu văn chương, mỹ thuật và tài lợi khẩu. Tính tình hiếu hoà nhưng rất can đảm, họ giàu lòng hy sinh và yêu nước, yêu giống nòi, quê hương cao độ.
 
Nét đặc thù không có gì quan yếu, duy chỉ có giọng nói chung toàn làng là giọng Bắc. Sống chung giữa các làng lân cận đều nói giọng nằng nặng của miền Nghệ Tĩnh và có nhiều thổ âm lạ tai như: “Vậy cu rà” (thế à), v. v…mà họ không bị đồng hoá. Chính có nhiều người Bắc khi nói chuyện cũng đã hỏi họ: “Thế ngoài Bắc ông bà ở vùng nào, Thái Bình hay Hải Dương?”
 
Điều này cũng dễ hiểu, vì quê quán của Ông Tổ họ Nguyễn là làng Xuân Đàm, Nguyệt Viên, tỉnh Thanh Hoá. Mặc dầu tới Nghi Lộc sau một vài họ tộc khác, tuy nhiên mức sinh sản của giòng họ ngày khá cao, con cháu tính đến nay gần phân nửa làng. Do sự phát triển mạnh mà tiếng nói theo giọng Bắc được duy trì và phổ biến.
 
Về cách ăn vân trang sức của người làng cũng giống như của dân quê miền Trung và Bắc nước ta. Có thể phân làm nhiều thời kì, nhưng đại lược như sau:
 
1. Thời tiền chiến (1945):
 
a. Đàn ông trong những dịp lễ lạc: khăn đóng áo dài, quần trắng ống rộng (quần rộng, sống dài); lúc ở nhà hoặc đi làm ruợng: nón lá che mưa nắng, áo cánh (ngắn) hoặc để lưng trần, quần nhỡ quá gối, không dài không ngắn. Thỉnh thoảng có người quấn thắt lưng vải và lận một bao trầu bằng vải có nhiều ngăn, nhiều màu. Một vài người khác lại mặc áo cánh năm thân, vấn tóc cu sau đầu. Chân đi guốc đẽo bằng gộc tre hay giày hạ. Đi đường xa thì dùng dép da sống.
 
b. Đàn bà thì đầu vấn khăn, trời lặn thắt thêm lớp khăn mỏ quạ, che mưa bằng nón chóp lá. Một đôi người già cả sang trọng đội nón phẳng rộng vành, quai thao. Răng nhuộm đen và miệng nhai trầu đỏ thắm. Mình vận áo dài tứ thân, ngực thắt yếm trắng, eo thắt dây lưng vải loè loẹt, mặc váy, chân đi guốc hoặc dép. Trang sức: mang khuyên vàng hoặc bạc ở tai, cổ đeo kiềng. Trong những ngày lễ, các bà và các cô đeo tràng hạt mã não, dây truyền in-du và dây áo Đức Bà, tất cả đều làm bằng bạc. Bên hông phải, các cô thường gắn liền vào dây lưng chuỗi dây xà tích có lắm tua bạc, đeo chìa khoá và gắn ống vôi hình quả đào với một vài trang sức linh tinh. Quần áo thường ngày vì làm lụng ngoài đồng ruộng nên bận váy cộc nhuộm nâu trét bùn và áo cánh ngắn nhuộm nâu. Đàn ông và đàn bà ít người đeo nhẫn.  
 
2. Thời kháng chiến: (1945 về sau):
 
Dân trí bừng thức tỉnh với trào lưu tiến bộ và văn minh Âu, Á. Thanh niên tân học có nhiều thay đổi rõ rệt: Đầu hớt tóc cao, không còn quá chăm sóc mái tóc chải rẽ, chải tém của mấy năm trước. Quần áo may theo kiểu Tây, chemise cổ bẻ, quần có túi và sử dụng dây nịt. Chân đi giày dép hoặc guốc. Các thanh nữ không còn vấn khăn mà chỉ còn bối hoặc kẹp tóc các kiểu dợn sóng. Thay thế áo dài bốn thân yếm trắng bằng áo dài kín cổ. Không bận váy mà sử dụng quần dài màu đen lúc ở nhà và khi làm việc bận áo cánh cài nút, cổ tròn hoặc vuông, xẻ kích. Bỏ những trang sức rườm rà xưa cũ mà chỉ mang đơn giản một giây chuyền mảnh bằng vàng hoặc bạc. Tai không đeo khuyên mà đeo hoa (bông tai). Họ cũng biết chải chút cho hàm răngngà ngọc mà không còn nhuộm đen như trước. Nhìn chung các cô đã biết làm đẹp thêm cho dáng đẹp của mình.
 
Dân số làng Nghi Lộc không được đông lắm. Tính đến năm 1955 (di cư) dân số toàn làng chỉ 1050 người với gần 200 nóc nhà, nếu tính theo niên đại thì sư phát triển về dân số có phần châm. So với 200 năm (khởi điểm) thì mỗi năm chỉ tăng 5 người và thêm được một nóc gia. Mặc dầu số trẻ sơ sinh trong làng hàng năm, theo sổ rửa tội có con số khá cao. Năm 1932, linh mục Nguyễn Đình (Cha xứ tiên khởi của Nghi Lộc) trong một bài giảng ngày Chúa nhật đã lưu ý cho dân làng biết tình trạng sinh tử đều nhau ngỏ hầu tìm phương pháp cải thiện, nhất là chú tâm về phép vệ sinh và phương thức dưỡng nhi.
 
Không kể những năm giặc giã, toa loạn những thời kì cấm đạo liên miên, giáo dân bị phân sáp đem đi biệt tích, hoặc bị sát hại thời Văn Thân. Cũng không kể đến thời gian chiến tranh sau này đã làm thiệt mạng một số dân làng vô tội.Chúng ta tạm có bản thống kê tiêu chuẩn trong thời binh như sau:
 
Sinh suất: tỷ lệ 32%
Với lý do chính:
- Quan niệm nhà đông con nhà có phúc.
- Tình trạng nông nghiệp thô sơ cần nhiều nhân công.
- Bù vào nạn hữu sinh vô dưỡng.
 
Tử suất (Khá cao): tỷ lệ 24%
Nguyên do:
- Tình trạng thiếu ăn, không đủ sinh tố.
- Nhiều bệnh truyền – nhiễm.
- Phép vệ sinh không được chú trọng.
- Thiếu thuốc men và phương tiện y tế (đau ốm chỉ nhờ các thầy đông y chuẩn mạch hút thuốc).
 
Tỷ lệ tuổi thọ:
- Dưới 60 tuổi 62, 7% 
- Trên 60 tuổi 25% 
- Trên 80 tuổi 12% 
- Trên 100 tuổi 0, 3%
 
(1)  Họ Uý rất hiếm thấy ở Việt Nam.
 
 
Đình Quang (tư liệu)
 

Nguồn tin: Trích từ cuốn "Quê hương yêu dấu"

Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn